Thứ Năm, 31 tháng 10, 2013
Thứ Ba, 29 tháng 10, 2013
Nguồn ngốc Họ Phạm - Nam Định
1. Mang dáng dấp bình
dị như bao ngôi từ đường dòng họ khác ở đồng bằng Bắc Bộ nhưng ngôi từ đường
dòng họ Phạm tại xã Xuân Kiên-Xuân Trường-Nam Định lại ẩn chứa một niềm tự hào
mà ít nơi nào có được bởi đây là nơi lưu giữ và phát huy lịch sử và truyền thống
của một dòng họ, một vương triều.
Từ đường dòng họ Phạm là di tích thờ vị thuỷ tổ của dòng họ là Phạm Đình Trú.
Phạm Đình Trú tên thật là Mạc Đăng Thận, là cháu 3 đời của Thái tổ Mạc Đăng
Dung. Sinh thời ông được giao nhiệm vụ coi giữ lăng miếu tổ tiên dòng họ Mạc ở
Cổ Trai-Dương Kinh của nhà Mạc.
Mạc Đăng Thận sinh ra và lớn lên trong giai đoạn đang suy vong của nhà Mạc.
. Trong bối cảnh đó, lực lượng Nam Triều được củng cố lại đã liên tục
giành những thắng lợi quan trọng. Cuối năm 1591, Trịnh Tùng điều động 6 vạn quân
chia thành 5 đạo tiến ra bắc. Để đối phó lại, nhà Mạc cũng huy động một lực
lượng tới 10 vạn quân. Một trận quyết chiến diễn ra ở Sơn Tây, trong trận này
nhà Mạc đại bại. Thừa thắng, Trịnh Tùng cho quân áp sát thành Thăng Long để uy
hiếp.
Năm 1592, quân Nam Triều mở cuộc tấn công quyết định vào Thăng Long. Trịnh Tùng
giành toàn thắng. Cục diện Nam-Bắc triều về cơ bản đã kết thúc mặc dù một số
con cháu dòng họ Mạc cùng tướng lĩnh phải chạy lên Cao Bằng cố thủ cho đến năm
1677 mới chấm dứt hoàn toàn.
Truyền thuyết dòng họ[1] cho biết giai đoạn này Mạc Đăng Thận
thấy đại cục đã hỏng bèn cùng 500 quân bí mật mang theo hài cốt của Hoàng tộc
trong đó có hài cốt của Thái tổ Mạc Đăng Dung, Thái tông Mạc Đăng Doanh, Hiến
tông Mạc Phúc Hải, Tuyên tông Mạc Phúc Nguyên cùng một số báu vật như gia phả
bằng đồng của dòng họ, thanh đại đao của Thái tổ Mạc Đăng Dung[2] ra trấn giữ Đồ Sơn.
Vài năm sau, khi thấy nhà Mạc không thể thay đổi được cục diện, Mạc Đăng Thận
bèn giải tán đội quân, cất giấu hài cốt của Hoàng tộc cùng một số báu vật dưới
lòng thuyền rồi chất đồ gốm lên trên, cải trang thành đoàn thuyền buôn dong
buồm chạy sang đảo Hải Nam tạm trú.
Tha phương một thời gian, được tin nội chiến giữa hai tập đoàn Trịnh-Nguyễn
diễn ra quyết liệt, việc truy tìm dòng dõi nhà Mạc đã đỡ phần gay gắt, Mạc Đăng
Thận quyết định trở về đất nước. Nhận thấy vùng đất Cồn Lau[3] ven cửa Lạn Môn thuộc phủ Thiên Trường đất đai trù phú,
dân cư thưa thớt, Mạc Đăng Thận bèn giấu kín tung tích bằng cách từ chữ Mạc lấy
bộ thảo đầu đổi thành chữ Phạm, thay tên là Đình Trú (Dừng lại, trú ngụ), đồng
thời chiêu tập dân nghèo khai phá được hơn 700 mẫu ruộng, động viên giúp đỡ
nhân dân dựng nhà lập ấp, phát triển nông tang.
Truyền thuyết dòng họ cùng một số tư liệu cho biết khi về vùng đất Cồn Lau sinh
sống, Mạc Đăng Thận đã mang di cốt của bốn vị vua đầu triều cùng một số di cốt
hoàng tộc chôn cất tại cánh đồng Cồn Kiên, dùng câu nói “tứ hà tổ, bất tri hà
tổ” (mộ của bốn vị tổ, nhưng không biết là tổ nào) để giấu kín tung tích dòng
họ. Mặc dù phải mai danh ẩn tích, giấu kín nguồn gốc cùng phần mộ tổ tiên nhưng
trong tâm thức những thế hệ kế thành dòng họ Phạm gốc Mạc thì hồi ức của một
vương triều cùng những ngày giỗ của những vị vua được chôn cất tại quê hương
mới vẫn được khắc ghi. Hàng năm vào mỗi dịp giỗ của từng vị vua dòng họ đều
tiến hành dâng hương, cúng tế. Nghi thức diễn ra đơn giản nhưng trang nghiêm và
đầm ấm, có sự tham gia đông đủ của dòng họ.
2. Phạm Đình Trú (Mạc Đăng Thận) sinh được 3 người con trai là Phạm Công An,
Phạm Công úc, Phạm Đình Tú. Trong số 3 người con trai thì Phạm Công An là con
trai trưởng nên chịu trách nhiệm kế nghiệp cha trong việc ổn định và phát triển
cuộc sống dòng họ sau một thời gian dài sống lưu vong. Với mục đích hoàn thành
tâm nguyện của cha, ông đã cho mời những danh sư giỏi về dạy dỗ các thế hệ con
cháu để phát triển dòng họ. Dưới sự hướng dẫn, chỉ bảo của ông, các thế hệ con
cháu dòng họ Phạm gốc Mạc ở Kiên Lao kế tiếp nhau phát triển theo con đường võ
học rồi giữ nhiều chức vụ trong triều đình. Gia phả dòng họ có ghi con trai ông
là Phạm Công Phú (Đô Cối) trúng lực sĩ xuất thân, làm đến chức Đô chỉ huy Đồng
tri, tử trận năm 39 tuổi, được truy phong Vạn Sơn hầu. Con trai cả của Phạm
Công Phú là Phạm Hữu Nghĩa (Đô Cương) lại trúng lực sĩ xuất thân, giữ chức Tróc
sinh lực sĩ, Ty cẩm y vệ, Ty lực sĩ điện Kim Quang, tước Viên Hùng bá. Tiếp đến
là ba người con trai của Phạm Hữu Nghĩa là Phạm Hữu Hoan cũng được phong tới
chức Trì uý tướng quân; Phạm Hữu Nhân được phong chức Đô chỉ huy sứ Đồng Tri,
tước Quảng Đình hầu; Phạm Hữu Tín giữ chức Bả du đội, tước Triều Vạn bá. Cả bốn
cha con Viên Hùng bá Phạm Hữu Nghĩa đều làm quan dưới các triều vua Lê Chân
Tông (1643-1649), Lê Thần Tông (1649-1662), Lê Huyền Tông (1663-1671). Thống kê
trong gia phả dòng họ, kể từ khi về vùng đất Kiên Lao sinh sống, chỉ riêng
ngành cả của Phạm Công An có tổng cộng 14 người được phong các chức từ Tri phủ
đến Tướng quân.
Với những công lao đức độ, phẩm chất cùng những đóng góp của Phạm Công An đối
với dòng họ và quê hương, sau này triều đình nhà Nguyễn đã ghi nhận và sắc
phong ông là Đoan túc Dực bảo trung hưng Lê triều Thái bảo Phạm Công An tôn
thần.
Riêng đối với ngành 2 và ngành 3 của dòng họ Phạm gốc Mạc, cuốn gia phả cũng
cho biết sau này một số con cháu dòng họ Phạm gốc Mạc thuộc ngành 2 (Phạm Công
úc) dời về lập ấp tại Ngọc Tỉnh (Xuân Hùng-Xuân Trường-Nam Định), con cháu
ngành 3 (Phạm Đình Tú) cũng tiến hành khai hoang mở làng tại Hoành Tây (Giao
Yến-Giao Thuỷ-Nam Định). Cả hai ngành này cũng đã kế tục xứng đáng với truyền
thống tổ tiên trong việc đào tạo ra nhiều nhân tài cho đất nước.
ảnh 2: Sắc phong
niên đại Khải Định 9 (1924) phong cho Phạm Công An tôn thần.
|
3. Ngôi từ đường họ Phạm gốc Mạc hiện nay thuộc xóm 14, xã Xuân Kiên huyện Xuân
Trường, tỉnh Nam Định. Văn biaPhạm tộc bi ký do Mai Ngọ Hiên soạn
khắc năm Thành Thái Mậu Tuất (1898) cho biết xưa kia ngôi từ đường được xây
dựng với 3 gian nhà tranh nhỏ hẹp. Đến năm 1898, dòng họ quyên góp tiền xây
dựng khu chính tẩm, lợp lại mái tiền đường thành mái ngói đồng thời cho lát
toàn bộ nền từ đường bằng gạch đỏ. Năm Thành Thái thứ 11 (1899), cả dòng họ huy
động công sức để trùng tu lại từ đường. Văn bia Phạm tộc bi ký soạn
khắc năm Thành Thái Bính Ngọ (1906) ghi lại vào năm này tiền đường được hoàn
thành gồm 3 gian gỗ lim, lợp ngói to lớn hơn. Cùng với việc xây dựng lại tiền
đường thì dòng họ cũng tiến hành kiến thiết lại hệ thống khuôn viên di tích
khang trang hơn. Toàn bộ công việc xây dựng, thanh toán tiền công được khắc vào
via đá ghi công vào năm Duy Tân năm thứ 2 (1908).
Từ đường họ Phạm gốc Mạc là công trình còn bảo lưu được những phong cách kiến
trúc gỗ cổ truyền của dân tộc. Kể từ khi xây dựng đến nay, công trình luôn được
các thế hệ con cháu quan tâm tôn tạo, tu bổ nên các hạng mục kiến trúc vẫn giữ
được độ bền vững, các di vật được bảo quản khá tốt, môi trường cảnh quan phong
quang thoáng đãng. Bên cạnh việc quan tâm đến công trình kiến trúc từ đường thì
các ngôi mộ của những người trong hoàng tộc Mạc tại cánh đồng Cồn Kiên cũng
được dòng họ chú ý giữ gìn, tôn tạo. Đợt cải tạo, chống lún sụt năm 2000, dòng
họ đã tìm thấy một số đồ tuỳ táng như bát, đĩa, mảnh gốm sứ mang phong cách
nghệ thuật TK VII-XVIII. Mặc dù điều đó chưa đủ căn cứ để khẳng định chính xác
đây là mộ của các vị Hoàng đế nhà Mạc nhưng qua đây cũng cho những nhận định
ban đầu về niên đại của các ngôi mộ này. Bên cạnh đó những di vật còn được dòng
họ lưu giữ như thanh đại đao, gia phả, sắc phong cùng việc lập thần chủ thờ tự
các vị vua từ bao đời nay là một minh chứng khẳng định nguồn gốc của dòng họ Phạm
nơi đây.
ảnh 3: Bài vị:
“Thượng tổ Mạc triều liệt vị tiên hoàng đế thần vị” thờ tại từ đường.
|
Hàng năm, ngày lễ lớn nhất của dòng họ được tổ chức vào ngày 9,10 tháng 2 âm
lịch không chỉ là dịp con cháu xa gần tụ họp, được đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng
tâm linh mà còn thể hiện tinh thần uống nước nhớ nguồn, lưu giữ và phát huy
truyền thống lịch sử của dòng họ, thoả mãn tâm lý hướng về cội nguồn, hiểu về
nơi sinh thành của cha ông, về quá trình đấu tranh lao động để gây dựng cơ
nghiệp lâu dài cho thế hệ mai sau. Tất cả những yếu tố đó góp phần quan trọng
vào việc định hướng và giáo dục con cháu tiếp nối nhau phát huy tự hào và tiến
bộ hơn.
Với những giá trị tiêu biểu về kiến trúc nghệ thuật, lịch sử và văn hoá, ngày
4/2/2006 ngôi từ đường họ Phạm gốc Mạc đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh Nam Định
công nhận và cấp bằng di tích lịch sử-văn hoá theo Quyết định số 430/QĐ-UBND,
tạo điều kiện thuận lợi để dòng họ bảo vệ, bảo tồn và phát huy giá trị có hiệu
quả cao.
Vũ Đại An
Ban quản lý di tích và
danh thắng tỉnh Nam Định.
[1] Ngoài truyền thuyết, chúng tôi còn căn
cứ vào tư liệu Mộ bốn vua Thái tổ, Thái tông, Hiến tông triều Mạc và thanh đại
đao nặng 60 cân (36,9kg) của tác giả Lê Xuân Quang đăng trên Phát hiện mới khảo
cổ học năm 1996; Tư liệu Phát hiện thấy sinh phần của bốn Hoàng đế triều Mạc và
thanh đại đao của Mạc Thái tổ Đăng Dung đăng trên báo An ninh Hải Phòng số 497,
ngày 13/6/2000 của tác giả Trần Phương.
[2] Hiện nay cuốn gia phả bằng đồng đã bị
giặc Pháp tiêu huỷ trong giai đoạn 1949-1953, còn thanh đại đao được thờ tại từ
đường ngành 2 dòng họ Phạm gốc Mạc ở Ngọc Tỉnh-Xuân Hùng-Xuân Trường-Nam Định.
(Nay thanh Long đao đã được đưa về thờ tại Thái miếu mới xây dựng lại tại Xã
Ngũ Đoan - Dương kinh xưa- thuộc huyện Kiến Thụy, Hải Phòng- Xin xem bài Truyền
thuyết về thanh long đao trong mục Tư liệu-mactoc.com)
[3] Cồn Lau sau đổi thành Kiên Lao, nay là
xã Xuân Kiên-Xuân Trường-Nam Định.
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Nam Định
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
8:5' 15/7/2013

Thờ cúng tổ tiên gắn liền với từng gia đình, dòng họ, thể hiện qua hàng loạt các lễ thức, nghi thức, thế chế phong tục.
Trong gia đình: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên (hay còn được gọi là đạo thờ cúng tổ tiên) trở thành nếp sống trong mỗi gia đình người Việt Nam và được thể hiện trong rất nhiều cách thức. Những biểu hiện bên ngoài như: bàn thờ ông bà, cha mẹ (gia tiên), giỗ chạp...đến những tâm thức thường trực tiềm tàng trong cách nghĩ, cách cảm - lối sống của cư dân.
Bàn thờ gia tiên: Theo điều tra năm 1999 - 2000, hầu như nhà nào cũng thờ gia tiên không kể trưởng thứ, cứ lập gia đình, ra ở riêng là dành một chỗ trang trọng nhất để thờ. Với những gia đình chưa có điều kiện kinh tế hoặc con thứ thì cũng vẫn có một ban thờ ông bà hoặc bố mẹ.
Những nhà có điều kiện thì đóng mới hoặc mua bàn thờ đặt ở gian trang trọng, câu đối, hoành phi. Bàn thờ gia tiên là nơi biểu hiện - vật thể hoá những tình cảm, trách nhiệm của thế hệ đang sống với các thế hệ trước của gia đình (gia tiên). Ngoài các ngày kỵ (giỗ chạp), ngày một (ngày sóc), ngày rằm (ngày vọng) trong tháng, các lễ tiết trong năm (mồng ba tháng ba, ngày năm tháng năm - Đoan ngọ, Trung thu, Tết Nguyên đán) thì mọi vui buồn trong gia đình đều được chủ nhà "báo cáo" với gia tiên, mời gia tiên về chứng giám, giàu có thì mâm cỗ, khá giả chút thì hoa quả, đĩa sôi, chén rượu.. nghèo thì nén hương chén nước sạch...
Giỗ chạp: Trong gia đình việc cúng giỗ gia tiên, tổ tiên chỉ được thực hiện với những người trong phạm từ 4 đời trở xuống (người mà chủ gia đình gọi là cụ), còn từ đời thứ 5 trở lên được giỗ chung trong phạm vi họ tộc hay trong chi phái). Giỗ chạp, theo phong tục xưa chỉ diễn ra ở nhà con trai trưởng - bậc trai trưởng. Những ngày giỗ, tuỳ theo tình hình kinh tế của nhà trưởng mà cỗ bàn to hay nhỏ, nhiều hay ít.
Có một thực tế là không phải tất cả các gia đình đều có con trai hay tất cả nhưng con trai trưởng đều còn, trong những trường hợp như vậy, từ lâu ở người Việt thường có chế độ thừa tự (con trai thứ của bậc thứ được nhân phần cúng giỗ) hoặc con gái cũng cúng cha mẹ, ông bà.Trong phạm vi dòng họ: Trong phạm vi dòng họ việc thờ cúng tổ tiên thể hiện qua một loạt các hoạt động tập thể của các gia đình, các thành viên trong họ về giỗ tổ, chạp mộ. Địa điểm thờ cúng tổ tiên của dòng họ được diễn ra ở nhà trưởng họ (tộc trưởng), có nơi có điều kiện thì xây cất nhà thờ họ (từ đường).
Nhà thờ họ (Từ đường): Không phải tất cả các họ, tộc đều có (hoặc còn) nhà thờ - một địa điểm thờ cúng tổ tiên chung của các thành viên trong họ - theo nghĩa là những người được coi là có chung một cụ tổ về đằng cha), vì tuỳ thuộc những điều kiện kinh tế, xã hội nhất định. Tuy nhiên, nhà thờ họ (từ đường) là một hiện tượng ngày càng phổ biến, phát triển của cư dân Việt nói chung của vùng Nam Định nói riêng. Tính đến năm 1998, theo số liệu điều tra của Sở Văn hoá thông tin, toàn tỉnh có đến 3368 từ đường chính phái, hoặc chi, nhánh của các dòng họ. Có những làng, có bao nhiêu dòng họ, chi phái thì có bấy nhiêu từ đường. Thôn Hưng Thịnh - Hoàng Nam - Nghĩa Hưng với 30 họ, 34 nhà thờ; thôn Bách Tính - Nam Trực có 15 nhà thờ họ; làng Hoành Nha xã Giao Tiến, huyện Giao Thuỷ có 54 từ đường; Trà Lũ có 18 từ đường...).
Mặt khác, có một thực tế, do những điều kiện lịch sử, kinh tế xã hội cụ thể mà ở Nam Định càng đi về mạn Xuân Trường, Giao Thuỷ, Hải Hậu, Nghĩa Hưng, những làng có lịch sử khai phá từ khoảng vài trăm năm trở lại, những từ đường lại mọc lên nhiều hơn. Hẳn trong những điều kiện của một cư dân tiểu nông, mỗi lần phải rời quê hương bản quán đi khai khẩn vùng đất mới, ý thức về quê hương, tổ tiên, dòng họ lại có dịp trỗi dậy.
Theo: Địa chí Nam Định
Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013
Tháng 9 động rươi
"Tháng 9 động rươi"
16:26' 9/10/2013

“Tháng 9 động rươi, tháng 10 động ra, tháng 3 động rạm”. Thời điểm rươi nổi lên mặt nước đã hiếm, thời gian xuất hiện lại ngắn, thường chỉ tập trung vào đêm khi thủy triều lên, có lẽ vì thế mà mỗi mùa rươi, làng tôi thường quên ăn, quên ngủ để đi vớt rươi. Trên những vùng nước lợ, vùng đồng trũng, rươi từ lòng đất chui lên, rồi tụ thành từng đám nhỏ, bơi theo dòng nước chảy. Những nơi rươi tập trung nhiều, người ta còn khơi bờ ruộng cho nước chảy vào một chỗ đã giăng sẵn tấm lưới để hứng rươi. Vui nhất là ngày rươi nổi đúng vào buổi nghỉ học, lũ trẻ làng tôi thường tự chế những chiếc vợt khâu bằng vải màn, có tay cầm, chạy dọc các con mương, con lạch thi nhau hớt rươi. Rươi bắt về phải nhẹ nhàng cho vào xô, chậu, tránh làm rươi bị vỡ bụng sẽ mất hết chất bổ. Người không quen mới đầu nhìn con rươi thường có cảm giác sợ, nhưng đã được ăn một lần thì không thể nào quên. Những ngày trời đất chuẩn bị giao mùa, thời tiết thay đổi, mưa, nắng thất thường, lại thêm những đợt gió heo may se lạnh, được ngồi trong căn nhà ấm áp, thưởng thức món chả rươi nóng hổi tưởng không còn cái thú nào bằng. Mùa rươi chỉ kéo dài chừng 2-3 tuần là hết nên các bà nội trợ đảm đang rất biết nắm bắt thời điểm này để đáp ứng sở thích của cả gia đình. Để có món chả rươi thơm ngon, người có kinh nghiệm thường chọn những con thân mập mạp, màu hồng hoặc vàng óng, xanh nhạt bởi đó là những con rươi tươi và béo. Rươi làm sạch được cho vào bát tô lớn, chập mấy chiếc đũa lại đánh tan cho đến khi rươi sánh dẻo thì cho thêm thịt băm, trứng, thì là và nhất định không thể thiếu vỏ quýt vào trộn đều. Không biết có phải mùa rươi cũng đúng vào mùa quýt chín hay không mà món chả rươi có thêm chút vỏ quýt lại dậy mùi và bắt mắt đến vậy. Nhiều nhà cầu kỳ trước khi rán chả rươi còn bọc từng miếng vào hai chiếc lá lốt, hấp qua, nên sau khi rán xong, mặt ngoài chả có màu vàng sậm, giòn tan nhưng bên trong vẫn mềm và ngọt, giữ được hương vị thơm ngon đặc trưng của rươi. Ngoài làm chả, rươi xào củ niễng, điểm chút vỏ quýt thái chỉ cũng là món ăn “đến hẹn… lại nhớ” của bao người!
Bây giờ đồng ruộng, sông ngòi bị ô nhiễm vì thuốc trừ sâu nên rươi không còn dồi dào như trước. Song cứ vào khoảng “tháng 9 đôi mươi, tháng 10 mùng năm”, trời đang nắng bất chợt mưa, hoặc đang mưa thì hửng nắng, người dân quê tôi lại chuẩn bị các dụng cụ đi bắt rươi, bán cho những người sành ăn một đặc sản mỗi năm chỉ có một lần./.
Lam Hồng (Báo Nam Định)
Cốm nếp - Giao Thủy
Cốm nếp
10:22' 11/1/2013

Nguyên liệu để làm cốm là lúa nếp
Ngày còn bé mỗi khi ngoài đồng lúa nếp bắt đầu đỏ đuôi, tôi thường theo các anh, các chị trong xóm ra đồng hái lúa nếp về làm cốm lúa nếp non hay những buổi được bố mẹ giao nhiệm vụ ở nhà trông lúa là y như rằng anh em tôi sẽ làm một nồi thóc nếp rang (cốm nếp) để ăn trong khi trông lúa phơi ngoài sân. Những hạt thóc nếp được rang trên bếp rơm dưới sức nóng của lửa cho chúng tôi một nồi hạt nổ trắng để anh em tôi thi nhau giành ăn. Ngày nay, cuộc sống hiện đại chúng ta không còn bắt gặp hình ảnh những đứa trẻ ngồi quây quần bên mẹt thóc rang nữa mà là hình ảnh của gói cốm nếp được mẹ mua về từ chợ. Để cốm thơm ngon, người dân quê tôi chọn những giống nếp địa phương nổi tiếng như nếp lý, nếp hoa, … nhưng ngon nhất vẫn là nếp cái hoa vàng, các giống nếp cao sản mới không làm sao sánh nổi về phẩm chất. Có hai loại cốm: cốm làm từ lúa nếp non và cốm làm từ lúa nếp già.

Cốm nếp non được gói trong lá mùng
Cốm nếp non làm từ lúa nếp cái hoa vàng mới bắt đầu đỏ đuôi cho ra thành phẩm thơm ngon đặc biệt. Lúa gặt về tuốt hạt, sàng bỏ rơm và những hạt thóc lép, đãi qua nước rồi cho vào chảo rang. Bếp lò để rang cốm nếu cầu kỳ thường phải đắp xỉ than nhưng không đốt than mà dùng củi, và chảo rang thường bằng gang đúc. Cốm được rang trong lửa nhỏ, đảo liên tục sao cho nóng đều. Rang khoảng 30 phút thì xem thử bằng cách đặt 5 hạt lên miếng gỗ, dùng ngón tay miết mạnh, nếu thấy hạt "2 quằn 3 róc", tức 2 hạt chưa róc vỏ nhưng bị quằn lại, còn 3 hạt còn lại róc vỏ nhưng không bị quằn là được. Thóc rang xong, người làm cốm đợi nguội rồi cho từng mẻ, mỗi mẻ khoảng vài kilogam vào cối giã. Thóc được giã đều và vừa tay mươi phút, thấy có trấu thì xúc ra xẩy bỏ trấu rồi lại giã tiếp. Tùy theo độ non của lúa khi gặt mà người giã cốm sẽ ước lượng, trung bình khoảng 7 lần giã là hoàn tất. Cốm đầu mùa có màu xanh nhạt, hạt mỏng, mềm, dẻo. Cốm được gói trong lá sen, lá mùng thơm mùi hương đồng gió nội chứ không bày đĩa hay gói túi nilon. Dùng tay để nhón từng chút cốm trong gói lá và bỏ vào miệng chứ không trút ra bát và dùng thìa xúc. Người sành ăn cốm không ăn kèm với bất kỳ thứ gì khác nhằm cảm nhận toàn diện vị ngọt và ngon của cốm. Tuy nhiên, cũng thường thấy cốm tươi được sử dụng ăn kèm với hồng chín đỏ hoặc chuối tiêu chín trứng cuốc. Cũng có khi người ta rang lại cốm dẹt trên chảo nóng cho hạt cốm nở phồng lên để ăn cho giòn và bùi.

Cốm nếp già được rang trên chảo nóng
Cốm nếp già được làm từ thóc nếp đã phơi săn. Giống nếp tốt, hạt nếp rang trên chảo cát nóng nở trắng tinh xòe cánh như hoa mai đêm giao thừa bùng nở rộ. Hạt nếp rang xong gọi là “hạt nổ”. Hạt nổ cần lượm sạch vỏ trấu, công việc này thường giao cho bà cháu trong gia đình, vừa làm vừa kể chuyện cổ tích, thật là thú vị. Những bông nổ trắng tinh như mây, giòn như nắng, thơm thơm hương đồng quê được đem trộn với cái vị ngọt ngào của đường mía. Cốm rang xong được đem quyện với mật làm từ đường phèn để làm thành bánh cốm. Nghệ thuật cô đường cũng rất độc đáo sao cho nồi đường vàng ươm như mật ong mùa xuân ngọt lịm, cay cay vị gừng, thơm thơm hương chanh. Dù là đường tán (đường thô) làm từ mía ở những lò làm đường thủ công, cũng phải đạt đến sự thanh khiết bậc nhất sau khi cô. Có lẽ kỹ thuật cô đường là bí quyết của người xưa mà đời sau không có được, nên bánh cốm tết ngày nay ít ngon chăng?

Bánh cốm ngày xuân
Tôi không thể nào quên cái không khí rộn ràng của quê nghèo lo ăn tết trước kia. Khắp thôn xóm rộn ràng tiếng chày giã cốm, đóng cốm lích ca lích kích mang âm sắc vui tươi ngày xuân. Cốm nếp non được bọc trong lá xanh thường được ăn thanh cảnh, nhẹ nhàng không phải là món ăn lấy no, cũng có khi được dùng để nấu chè cốm hoặc xôi cốm. Cốm nếp già được dùng để làm bánh, bánh cốm đóng trong giấy màu hoặc giấy bóng hình hộp chữ nhật xinh xắn trên đó còn trang trí những bông hoa cắt nổi rất đẹp, tăng thêm phần rực rỡ và sinh động cho ngày xuân./.
Hồng Luyến
Giao Thủy - Nam Định
Giao Thủy là huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Nam Định, nơi sông Hồng đổ ra biển qua cửa Ba Lạt. Trải qua mấy trăm năm, mảnh đất này đã được hình thành từ phù sa mầu mỡ của sông Hồng và dưới bàn tay lao động cần cù, sáng tạo của bao thế hệ người dân Giao Thủy cùng với lòng quả cảm, kiên cường trong đấu tranh chinh phục thiên nhiên và đấu tranh chống giặc ngoại xâm, quê hương Giao Thủy đã không ngừng đổi thay và phát triển ngày càng rạng rỡ.
Làng quê Giao Thủy (Ảnh: Trần Hưng)
Huyện Giao Thủy nằm ở cực Đông của tỉnh Nam Định, phía Đông và Đông Nam giáp với biển Đông Việt Nam, với chiều dài 32km bờ biển. Phía Tây Bắc giáp với huyện Xuân Trường, phía Tây Nam giáp với huyện Hải Hậu, ranh giới giữa hai huyện là con sông Sò phân lưu của sông Hồng với chiều dài 18,7 km. Phía Bắc và Đông Bắc tiếp giáp với tỉnh Thái Bình mà ranh giới là sông Hồng chảy qua địa phận huyện Giao Thủy là 11,4km (chính Bắc là huyện Kiến Xương, Đông Bắc là huyện Tiền Hải). Cực Đông là cửa Ba Lạt của sông Hồng, cực Nam là thị trấn Quất Lâm. Diện tích tự nhiên 232,1 km2. Dân số toàn huyện năm 2010 là 189.660 người. Nằm ở phía hạ lưu sông Hồng, hàng năm nhận được một lượng phù sa rất lớn tạo nên những vùng đất bồi mới với hàng ngàn hecta khá bằng phẳng tiến ra biển Đông. Theo dòng thời gian mỗi khi lớp đất bồi nền đã vững chắc, ông cha ta lại quai đê, lấn biển.
Trước thế kỷ XV, mảnh đất Giao Thủy ngày nay còn là vùng sình lầy chưa được khai phá. Theo cuốn "Hòe Nha lục": năm 1428, sau khi chiến thắng quân Minh xâm lược, triều đình nhà Lê khuyến khích khai hoang lấn biển. Vào thời vua Lê Nhân Tông niên hiệu Dinh Niên thứ 3 (1456), có dòng họ Nguyễn từ làng Hòe Nha ở phía Bắc thành phố Nam Định xuống đây khai hoang, lập ấp mới và cũng lấy tên làng cũ là Hòe Nha để đặt cho ấp mới. Về sau các dòng họ Hoàng, Lê, Phạm, Vũ, Từ, Trịnh...tiếp tục xuống khai hoang mở rộng làng ấp và đổi tên làng Hòe Nha thành làng Hoành Nha (xã Giao Tiến ngày nay).
Khi “Ba Lạt chưa phá hội”, sông Hồng Hà chảy qua cửa Hà Lạn ra biển Đông, thì đất Giao Thuỷ còn nằm ở tả ngạn sông Hồng Hà. Qua quá trình biến đổi và vận động của tự nhiên, đến triều Lê năm Bính Ngọ (1787) xảy ra “Ba Lạt phá hội”. Theo phả tộc họ Nguyễn ấp Hoành Nha (Giao Tiến) và di ngôn truyền lại rằng: trước khi “Ba Lạt phá hội”, Ba Lạt chỉ là con lạch nhỏ, người từ bờ bên này sang bờ bên kia chỉ cần qua một chiếc cầu tre buộc bằng ba cái lạt. Khi “Ba Lạt phá hội”, mảnh đất Giao Thuỷ biến đổi từ tả ngạn sang hữu ngạn sông Hồng Hà, cửa Ba Lạt ngày một rộng ra, cửa Hà Lạn ngày một bị thu hẹp lại.
Từ khi “Ba Lạt phá hội” (1787), mảnh đất mới đã được hình thành. Dưới triều Hậu Lê, triều đình xuống chiếu cho dân khai khẩn vùng đất này để mở rộng bờ cõi ra phía biển Đông. Những người có thế lực lúc đó chiêu mộ nhân dân các nơi từ Hải Dương, Thanh Hoá, Sơn Tây và nhiều nơi khác nữa lần lượt đến quai đê, lấn biển khai khẩn lập nên các làng xã đầu tiên là: Hoành Nha, Hoành Nhất (sau đổi tên là làng Hoành Đông), Hoành Nhị, Hoành Tam, Hoành Tứ, tiếp đến là các làng Khắc Nhất, Ngưỡng Nhân, Duyên Thọ, Tiên Chưởng, Sa Châu, Thanh Khiết, Đan Phượng, Văn Trì, Quất Lâm.
Từ khi “Ba Lạt phá hội” (1787), mảnh đất mới đã được hình thành. Dưới triều Hậu Lê, triều đình xuống chiếu cho dân khai khẩn vùng đất này để mở rộng bờ cõi ra phía biển Đông. Những người có thế lực lúc đó chiêu mộ nhân dân các nơi từ Hải Dương, Thanh Hoá, Sơn Tây và nhiều nơi khác nữa lần lượt đến quai đê, lấn biển khai khẩn lập nên các làng xã đầu tiên là: Hoành Nha, Hoành Nhất (sau đổi tên là làng Hoành Đông), Hoành Nhị, Hoành Tam, Hoành Tứ, tiếp đến là các làng Khắc Nhất, Ngưỡng Nhân, Duyên Thọ, Tiên Chưởng, Sa Châu, Thanh Khiết, Đan Phượng, Văn Trì, Quất Lâm.
Đến triều vua Minh Mạng (1820- 1840), triều đình đặt chức quan Doanh điền sứ và cho khai khẩn vùng đất mới bồi ở Nam Định- Thái Bình mà cụ Nguyễn Công Trứ là người chịu trách nhiệm thực hiện, cụ cho người các nơi đến khai khẩn lập nên các làng xã Du Hiếu, Mộc Đức, Thức Hoá, Bỉnh Ri, Tồn Thành, Địch Giáo, Quân Lợi, Duy Tắc, Thúy Rĩnh, Hiệt Củ, Đắc Sở.
Dưới triều Thiệu Trị (1841-1847), cụ Đặng Xuân Cát Tiên Công cùng 13 cộng sự chiêu mộ dân nghèo các nơi đến khai khẩn lập nên xã Thanh Nhang (để tỏ lòng tri ân nhân dân lập đền thờ các cụ ở xóm Thanh An- Giao Thanh).
Triều Tự Đức năm thứ 7 (1858), một số người làng Hành Thiện kết hợp với một số người gốc Giao Thuỷ nhờ cụ Đặng Kim Toán (người làng Hành Thiện) là tổng đốc tỉnh Nghệ An dâng sớ xin triều đình cho khai khẩn đất mới ở Giao Thuỷ lập thành 8 ấp mới, các ấp đều lấy tên làng xã cũ đặt tên cho ấp mới là Phú Nhai, Phú Ninh, Hoành Đông, Thượng Phúc, Lạc Nghiệp, An Cư, Lục Thuỷ, Hoành Tam. Năm Tự Đức thứ 10 (1860), cụ Nguyễn Như Vực người làng Trừng Uyên- Điền Xá- Nam Trực cùng bè bạn và một số người giầu có xin triều đình cho khai khẩn vùng đất ngoài đê Minh Hương (Giao Thanh) lập nên các làng xã Trừng Uyên, Hành Thiện, Xuân Hy, Thuỷ Nhai, Hoành Lộ, Ấp Lũ (Trà Lũ). Cùng thời, cụ Đinh Khắc Chu quê gốc Kiên Lao (Xuân Trường) chiêu mộ 16 dòng họ xuống khai khẩn 330 mẫu đất lập làng Kiên Hành (Giao Hải).
Năm Thành Thái thứ 2 (1890), cụ Nguyễn Huy Thể người làng Quất Lâm Thượng, cụ Nguyễn Văn Khanh người xã An Trạch- Mỹ Lộc chiêu mộ người các nơi khai khẩn lập nên xã Hà Nam. Năm Thành Thái thứ 6 (1894), cụ Nguyễn Bằng và cụ Trần Thanh xã Lục Thuỷ- Xuân Trường đưa người đến khai khẩn lập nên xã Thiện Giáo. Năm 1903, cụ Trùm Thuỷ cùng 21 cụ từ Thái Bình sang khai khẩn lập nên xã Nam Thành. Cụ cử nhân Trần Công Dương cùng một số cụ người làng Hoành Đông khai khẩn lập nên làng Lạc Nông. Cùng thời, cụ cử nhân Đỗ Dụ Trâm cùng một số cụ ở làng Thanh Khiết, Hoành Lộ chiêu mộ người đến khai khẩn lập làng Nho Lâm (Giao Hải).
Năm 1923, Chính phủ bảo hộ Pháp cho nhân dân đắp đê Bạch Long. Những người có thế lực ở Xuân Trường đứng ra trưng đấu đất trong đê, mộ dân 4 xã Trà Trung, Hành Thiện, Nam Điền, Kiên Lao đến khai khẩn lập làng Trung Long, Long Hành, Nam Long, Kiên Long (xã Giao Long).
Bến cá Giao Hải (Ảnh: Trần Hưng)
Hành chính:
Dưới thời thực dân- phong kiến, Giao Thuỷ gồm 5 tổng với 56 xã.
1. Tổng Hoành Nha được thành lập đời Lê Cảnh Hưng (1750- 1870) gồm các xã: Hoành Đông, Hoành Nhị, Hoành Tam, Hoành Tứ, Hoành Lộ, Hoành Nha, Khắc Nhất, Ngưỡng Nhân, Lạc Nông, Duyên Thọ, Tiên Chưởng, Sa Châu, Thanh Khiết, Đan Phượng, Văn Trì, Quất Lâm Thượng, Quất Lâm Hạ, Diêm Điền, Đông Bình.
2. Tổng Hoành Thu thành lập đời Minh Mạng (1820- 1846) gồm các xã Du Hiếu, Mộc Đức, Thức Hoá, Bỉnh Ri, Tồn Thành, Địch Giáo, Quân Lợi, Duy Tắc, Hiệt Củ, Thuý Rĩnh, Đắc Sở, Tự Lạc.
3. Tổng Quất Lâm thành lập cuối đời Minh Mạng (1846) tổng này tách một số xã của hai tổng Hoành Nha và Hoành Thu lập ra tổng Quất Lâm gồm các xã Quất Lâm Thượng, Quất Lâm Hạ, Văn Trì, Thanh Khiết, Đan Phượng, Liên Trì, Du Hiếu, Mộc Đức.
4. Tổng Lạc Thiện được thành lập thời Tự Đức (1848- 1883) gồm các xã Đông Thiện, Thiện Nguyên, Chí Thiện, Trừng Uyên, Lạc Thiện, Quân An, Đại Đồng, Trà Hương, Xuân Thiện, Tam Lạc, Kiên Hành, Nho Lâm, Thiện Giáo, Tập Thiện, Nam Thiện. 5. Tổng Hà Cát được thành lập đời vua Thành Thái (1889- 1907) gồm các xã Hà Cát, Định Hải, Giáo Phòng, Thuận Thành, Thanh Nhang, Hà Nam, Nam Thành.
2. Tổng Hoành Thu thành lập đời Minh Mạng (1820- 1846) gồm các xã Du Hiếu, Mộc Đức, Thức Hoá, Bỉnh Ri, Tồn Thành, Địch Giáo, Quân Lợi, Duy Tắc, Hiệt Củ, Thuý Rĩnh, Đắc Sở, Tự Lạc.
3. Tổng Quất Lâm thành lập cuối đời Minh Mạng (1846) tổng này tách một số xã của hai tổng Hoành Nha và Hoành Thu lập ra tổng Quất Lâm gồm các xã Quất Lâm Thượng, Quất Lâm Hạ, Văn Trì, Thanh Khiết, Đan Phượng, Liên Trì, Du Hiếu, Mộc Đức.
4. Tổng Lạc Thiện được thành lập thời Tự Đức (1848- 1883) gồm các xã Đông Thiện, Thiện Nguyên, Chí Thiện, Trừng Uyên, Lạc Thiện, Quân An, Đại Đồng, Trà Hương, Xuân Thiện, Tam Lạc, Kiên Hành, Nho Lâm, Thiện Giáo, Tập Thiện, Nam Thiện. 5. Tổng Hà Cát được thành lập đời vua Thành Thái (1889- 1907) gồm các xã Hà Cát, Định Hải, Giáo Phòng, Thuận Thành, Thanh Nhang, Hà Nam, Nam Thành.
Sau cách mạng Tháng 8/1945, Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà quyết định hợp nhất 56 xã cũ thuộc huyện Giao Thuỷ thành 23 xã mới gồm Quất Hải, Hiếu Đức, Tân Dân, Gi Thành, Minh Đức, Hải Yến, Thọ Tiên, Hoành Nha, Liên Hoành, Hoành Sơn, Đông Hoà, Diêm Điền, Quần Long, Kiên Lâm, Cát Hải, Giáo Thành, Nam Thiện, Thức Hoá, Lạc Nhân, Tam Thiện, Xuân Lạc, Thanh Nhang, Thiện An, Thiện Hương.
Năm 1952, thực hiện quyết định của Chính phủ về đổi tên xã, thống nhất lấy chữ “Giao” đầu gắn với một chữ của xã thành địa danh cho xã mới bao gồm các xã: Giao Lâm, Giao Hiếu, Giao Tân, Giao Yến, Giao Châu, Giao Tiến, Giao Hoành, Giao Điền Hoà, Giao Hoan, Giao Hải, Giao Hồng, Giao Nhân, Giao An, Giao Thiện, Giao Lạc, Giao Thuận, Giao Xuân, Giao Hà Thanh.
Đến cải cách ruộng đất (1956), xã Giao Hải chia thành 2 xã Giao Hải và Giao Long; xã Giao Lâm chia thành 2 xã Giao Lâm và Giao Phong; xã Giao Tiến chia thành 3 xã là Giao Tiến, Giao Hùng, Giao Thắng; xã Giao Sơn chia thành 2 xã Giao Sơn và Giao Hà; xã Giao Điền Hoà chia thành 2 xã Giao Hoà và Giao Bình; xã Giao Hà Thanh chia thành 2 xã Giao Thanh và Giao Hương; xã Giao Tân chia làm 2 xã Giao Tân và Giao Minh. Năm 1966, xã kinh tế mới Bạch Long được thành lập. Ngày 22/12/1967, Hội đồng Chính phủ quyết định hợp nhất 2 huyện Giao Thủy- Xuân Trường thành huyện Xuân Thủy.
Đến năm 1973, huyện tiến hành hợp nhất một số xã thành xã mới, cùng với các xã cũ, thời điểm này huyện Giao Thuỷ cũ gồm các xã Giao Lâm, Giao Thịnh, Giao Phong, Giao Tân, Bạch Long, Giao Yến, Giao Châu, Giao Nhân, Giao Tiến, Hoành Sơn, Giao Hà, Bình Hoà, Hồng Thuận, Giao Long, Giao Hải, Giao Xuân, Giao Lạc, Giao An, Giao Thiện, Giao Thanh, Giao Hương.
Năm 1986, huyện tiến hành tách khu 4 của xã Bình Hoà và 2 khu của xã Hoành Sơn thành lập Thị trấn Ngô Đồng. Ngày 26/2/1997, Chính phủ ra Nghị định số 19 về việc chia tách huyện Xuân Thủy thành 2 huyện Xuân Trường và Giao Thủy. Ngày 01/4/1997, huyện Giao Thủy chính thức được tái lập và đi vào hoạt động. Năm 2003, xã Giao Lâm đổi tên thành Thị trấn Quất Lâm. Đến nay, huyện Giao Thuỷ có 20 xã và 2 thị trấn: thị trấn Ngô Đồng là trung tâm chính trị-hành chính, kinh tế, văn hoá; thị trấn Quất Lâm là trung tâm kinh tế, văn hoá- du lịch.
Mùa vàng (Ảnh: Trần Hưng)
Những năm qua, nhờ có sự đổi mới về cơ chế quản lý và chính sách kinh tế của Nhà nước, cùng với sự chỉ đạo của Đảng bộ, chính quyền, kinh tế huyện Giao Thuỷ ngày một phát triển, duy trì nhịp độ tăng trưởng cao.
Trong 5 năm (2006 - 2010) kinh tế phát triển khá, giá trị tổng sản phẩm tăng bình quân 10,71%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng tăng giá trị và thu nhập, giảm tỷ trọng nhóm ngành nông – lâm - ngư nghiệp; tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng 14%; dịch vụ chiếm 38%; ngành nông – lâm – ngư nghiệp 48%. Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt 11,2 triệu đồng/người/năm.
Trong 5 năm (2006 - 2010) kinh tế phát triển khá, giá trị tổng sản phẩm tăng bình quân 10,71%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng tăng giá trị và thu nhập, giảm tỷ trọng nhóm ngành nông – lâm - ngư nghiệp; tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng 14%; dịch vụ chiếm 38%; ngành nông – lâm – ngư nghiệp 48%. Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt 11,2 triệu đồng/người/năm.
+ Sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp: từng bước phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá và tăng giá trị trên 1 đơn vị diện tích đất canh tác. Tổng sản lượng lương thực bình quân: 101.166 tấn/năm. Giá trị sản xuất / ha canh tác đạt 66,7 triệu đồng. Giá trị sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp tăng bình quân 3,5%/năm. Cơ cấu giá trị sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi và thuỷ sản, đặc biệt ngành thuỷ sản có tốc độ tăng trưởng bình quân 15,15%/năm.
+ Sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp: Sản xuất CN-TTCN có bước tăng trưởng khá, mức tăng trưởng bình quân 18,91%/năm, quy mô sản xuất của các doanh nghiệp từng bước được mở rộng. Một số sản phẩm chủ yếu có tốc độ tăng trưởng khá như nước mắm bình quân là 934.000 lít, muối Iốt 13.588 tấn, quần áo may sẵn 1.319 nghìn sản phẩm, gạch đất nung 97.812 nghìn viên… Các ngành cơ khí, sửa chữa, đóng tàu, chế biến lâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng, dệt may, đan, thêu, chế biến lương thực, thực phẩm đều có bước tăng trưởng khá góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, xóa đói giảm nghèo tăng thu cho ngân sách địa phương.
+ Sản xuất muối : Năm 2010, tổng diện tích muối đạt 482 ha với trên 9.000 lao động tham gia sản xuất, hàng năm cung cấp cho thị trường 42.000 tấn, giá trị tổng thu nhập trên 65 tỷ đồng. Ngoài ra, trên địa bàn huyện cũng đã phát triển 8 cơ sở thu mua muối của diêm dân để sản xuất, chế biến muối sạch, muối iốt tiêu thụ trong nước và xuất khẩu sang Lào.
+ Ngành nghề nông thôn : Hiện tại trên địa bàn huyện có 1.325 cơ sở sản xuất và hộ ngành nghề nông thôn, 5 làng nghề, thu hút trên 7.000 lao động tham gia với các cơ sở sản xuất chính là: mây tre giang, móc sợi, thêu ren, sản xuất nấm, chế biến lương thực, thực phẩm, may mặc, nghề mộc, cơ khí, xây dựng... Ngành nghề nông thôn với các cơ sở sản xuất rất đa dạng, phong phú nhưng chủ yếu ở quy mô nhỏ, phần nhiều là tự phát, bước đầu không có kỹ thuật cơ bản, vừa học, vừa truyền nghề, vừa làm chủ yếu là đúc kết kinh nghiệm thực tế gắn với nhu cầu thị hiếu hàng hoá thị trường để phát triển sản xuất. Tổng giá trị sản xuất bình quân 5 năm đạt 117,6 tỷ đồng/năm; tỷ lệ tăng bình quân là 13,5%/năm.
+ Các ngành dịch vụ: Tổng mức bán lẻ hàng hoá năm 2010 đạt 493,6 tỷ đồng, tăng 152% so với năm 2006. Thị trường hàng hoá phong phú, sôi động đáp ứng đủ các yêu cầu của sản xuất và đời sống. Các ngành dịch vụ vận tải, bưu chính - viễn thông, tài chính - tín dụng, du lịch - thương mại... phát triển mạnh: giá trị sản xuất năm 2010 đạt 414,2 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân 12,8%/năm. Trong đó dịch vụ du lịch tại khu nghỉ mát Quất Lâm đạt doanh thu bình quân trên 40 tỷ đồng/năm. Hiện tại đã có 42 khách sạn, nhà nghỉ, 111 kiốt phục vụ du lịch, hàng năm đón trung bình 172.000 lượt du khách.
+ Kết cấu hạ tầng: Hoàn thành việc bàn giao lưới điện nông thôn cho ngành điện quản lý, 100% số hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia. Hệ thống giao thông được đầu tư xây dựng qua nhiều năm đang phát huy tác dụng: trên địa bàn huyện hiện có 46,4km tỉnh lộ, 19km huyện lộ, 761km đường trục xã, liên xã, đường thôn xóm được nhựa hoá hoặc bê tông hoá. Hiện tại chỉ còn 5% đường thôn xóm chưa được nâng cấp. Bưu chính viễn thông thường xuyên nâng cao chất lượng dịch vụ. Mạng lưới viễn thông phủ sóng toàn huyện với chất lượng sóng tốt, 100% số xã có điểm bưu điện văn hoá xã, đáp ứng nhu cầu về thông tin liên lạc của xã hội.
Mùa muối Bạch Long (Ảnh: Trần Hưng)
Tình hình phát triển văn hoá - xã hội:
Sự nghiệp giáo dục - đào tạo được quan tâm, giữ vững thành tích đơn vị tiên tiến xuất sắc đứng trong tốp đầu của ngành giáo dục - đào tạo tỉnh Nam Định.. Phổ cập tiểu học, trung học cơ sở được duy trì và phát triển. Học sinh tốt nghiệp THCS vào học THPT các loại hình đạt trên 70%. Học sinh tốt nghiệp THPT vào học các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp đạt trên 80%. 100% trường tiểu học đạt chuẩn Quốc gia mức I (trong đó 17,8% đạt chuẩn mức II); 37% trường THCS; 1 trường THPT; 18% trường mầm non đạt chuẩn Quốc gia; 25% trường tiểu học đạt tiêu chuẩn "xanh, sạch, đẹp, an toàn". Kết quả xây dựng trường chuẩn Quốc gia cao hơn mức trung bình của toàn tỉnh.
Phong trào xây dựng nhà văn hoá xóm, xây dựng cơ quan, gia đình văn hoá phát triển mạnh và mang lại hiệu quả thiết thực: 160/332 xóm, tổ dân phố có nhà văn hoá; 36% số xóm (tổ dân phố) đạt tiêu chuẩn "Làng văn hoá"; 61 trường học, 28 cơ quan, 20 trạm y tế được công nhận có nếp sống văn hoá; số gia đình văn hoá năm 2010 chiếm 68,2% tổng số hộ gia đình toàn huyện.
Cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ, y tế được tăng cường về số lượng và nâng cao chất lượng: 18/22 xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế. Bệnh viện đa khoa trung tâm huyện được đầu tư nâng cấp với số kinh phí hàng chục tỷ đồng, số giường bệnh năm 2009 đạt 190 giường, tăng 40 giường so với năm 2005. Bình quân có 4,2 bác sỹ/1vạn dân (tăng 2,1 bác sỹ/1vạn dân so với năm 2005). 100% số xóm và tổ dân phố có cán bộ y tế.
Tích cực giải quyết việc làm cho người lao động. Tạo việc làm mới bình quân 4.000 lao động/năm, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 35%. Tỷ lệ hộ nghèo đến năm 2009 còn 5,5%.
Đời sống của các tầng lớp nhân dân được tiếp tục cải thiện và nâng cao: đến nay có 84,3% hộ có ti vi màu; 56,4% hộ có xe gắn máy; 32,7% hộ sử dụng điện thoại cố định.
Trung tâm chính trị, hành chính huyện Giao Thủy (Ảnh: Trung Thành)
Giao Thuỷ là quê hương giầu truyền thống yêu nước, anh dũng chống gặc ngoại xâm. Trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế cao cả, trên 24.000 người con Giao Thuỷ đã tình nguyện lên đường chiến đấu và phục vụ chiến đấu trên khắp các chiến trường và đã lập nhiều chiến công xuất sắc. Toàn huyện có 2.734 liệt sỹ, 2.150 thương binh, 66 bà mẹ Việt Nam anh hùng và trên 11.500 người đang hưởng chế độ đãi ngộ của Nhà nước. Với những đóng góp to lớn của Đảng bộ, nhân dân và lực lượng vũ trang huyện Giao Thuỷ đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, huyện đã được Chủ tịch nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVTND thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược; 11 xã, thị trấn được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND, 6 cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT và Anh hùng lao động.
Trải qua mấy trăm năm lịch sử hình thành và phát triển gắn với quá trình quai đê, lấn biển mở rộng bờ cõi, đấu tranh chinh phục thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm đã hun đúc lên những truyền thống quý báu của người dân Giao Thuỷ: đoàn kết, thuỷ chung, nhân hậu trong cuộc sống cộng đồng; cần cù, dũng cảm trong lao động sản xuất; kiên cường, bất khuất trong đấu tranh chống cường quyền áp bức và chống giặc ngoại xâm. Truyền thống đó là mạch nguồn nối liền quá khứ với hiện tại và tương lai, là nguồn động lực to lớn để Đảng bộ và nhân dân Giao Thuỷ hôm nay đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn xây dựng quê hương Giao Thuỷ ngày càng giầu đẹp, văn minh.
Lịch trình dự kiến 60 năm về đất Tổ
Tuy không phải là vùng đất đầu tiên mà nhà Trần đặt chân đến, nhưng Nam Định lại là nơi được coi như phát tích của triều đại hùng cường bậc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Một triều đại đã sinh ra vua hiền, tôi trung đã để lại cho đất nước biết bao hiền tài. Đền Trần nơi thờ 13 vị vua triều Trần cùng những nhân vật lịch sử lẫy lừng một thời như Trần Hưng Đạo, không chỉ hấp dẫn du khách bởi vẻ đẹp, tính linh thiêng mà đến với đền Trần là thể hiện lòng biết ơn của con dân Việt đối với các vị tiền bối. Đến Nam Định, du khách còn có thể thăm Chùa Phổ Minh, chùa Cổ Lễ và thưởng thức đặc sản bánh gai, chuối ngự Nam Định.
Ngày 23 - 11 - 2013
6h00: tập trung sân bay Tân Sơn Nhất.
9h00: đến sân bay Hải Phòng
11h00: đến làng, nghỉ ngơi, dùng cơm trưa.
14h00: thăm nhà Từ đường họ Phạm tại xã Xuân Kiên-Xuân Trường-Nam Định.
16h00: thăm nghĩa trang làng.
17h30: nghi thức cầu nguyện gia tiên và nghi thức nhận họ.
21h00: nghi tối.
Ngày 24 - 11 - 2013
5h00: thánh lễ tạ ơn tại giáo xứ làng.
6h00: dùng cơm sáng.
8h00: thăm thân nhân, thăm quan làng.
12h00: dùng cơm trưa tại làng.
14h00: thăm chùa Cổ Lễ nơi có quả chuông Đại Hồng Chung lớn nhất Việt Nam được hòa thượng Thích Thế Long cho đúc vào năm 1936.
16h00: Thăm đền Trần, nghe giới thiệu lịch sử xây dựng đất nước và 3 lần đánh thắng quân Nguyên - Mông Cổ của các quan thời Trần.
18h00: thưởng thức món ăn đặc sản Giao Thủy.
20h00: nghỉ ngơi.
Biển Hải Thịnh nằm ở phía Tây tỉnh Nam Định, thuộc thị trấn Thịnh Long xã Hải Thịnh, huyện Hải Hậu, là bãi biển sạch, trải dài hơn 3 km với dải cát mịn thoải, không bị bùn lún, an toàn tuyệt đối, êm đềm và thơ mộng. Vẻ đẹp hoang sơ khí hậu mát mẻ hơn hẳn với bãi biển khác vì không có cái nóng nực oi nồng của gió Lào, Hải Thịnh luôn đầy ắp gió cả ngày và đêm, điều thú vị hơn cả là cát biển Hải Thịnh không phải mầu trắng hay vàng mà ánh xanh mịn màng. Nơi đây có Cồn Lu, Cồn Ngạn nằm cách bờ biển khoảng 20 km với nhiều loại động thực vật phong phú, quý hiếm. Do môi trường trong sạch, khí hậu thiên nhiên ưu đãi, thức ăn ở đây tươi ngon nhưng giá cả cũng phải chắng....
Gỏi nhệch là một loại đặc sản của các huyện ven biển Nam Định. Bạn có thể đã được thưởng thức đặc sản gỏi nhệch Nghĩa Hưng hay gỏi nhệch Hải Hậu nhưng hãy một lần thưởng thức món gỏi nhệch Giao Thủy để cảm nhận sự khác biệt trong cách chế biến cũng như hương vị đặc trưng của loại đặc sản này tại miền quê Giao Thủy đầy nắng và gió...
Ngày 23 - 11 - 2013
6h00: tập trung sân bay Tân Sơn Nhất.
9h00: đến sân bay Hải Phòng
11h00: đến làng, nghỉ ngơi, dùng cơm trưa.
14h00: thăm nhà Từ đường họ Phạm tại xã Xuân Kiên-Xuân Trường-Nam Định.
16h00: thăm nghĩa trang làng.
17h30: nghi thức cầu nguyện gia tiên và nghi thức nhận họ.
21h00: nghi tối.
Ngày 24 - 11 - 2013
5h00: thánh lễ tạ ơn tại giáo xứ làng.
6h00: dùng cơm sáng.
8h00: thăm thân nhân, thăm quan làng.
12h00: dùng cơm trưa tại làng.
14h00: thăm chùa Cổ Lễ nơi có quả chuông Đại Hồng Chung lớn nhất Việt Nam được hòa thượng Thích Thế Long cho đúc vào năm 1936.
16h00: Thăm đền Trần, nghe giới thiệu lịch sử xây dựng đất nước và 3 lần đánh thắng quân Nguyên - Mông Cổ của các quan thời Trần.
18h00: thưởng thức món ăn đặc sản Giao Thủy.
20h00: nghỉ ngơi.
Ngày 25 - 11 - 2013
....
Biển Hải Thịnh nằm ở phía Tây tỉnh Nam Định, thuộc thị trấn Thịnh Long xã Hải Thịnh, huyện Hải Hậu, là bãi biển sạch, trải dài hơn 3 km với dải cát mịn thoải, không bị bùn lún, an toàn tuyệt đối, êm đềm và thơ mộng. Vẻ đẹp hoang sơ khí hậu mát mẻ hơn hẳn với bãi biển khác vì không có cái nóng nực oi nồng của gió Lào, Hải Thịnh luôn đầy ắp gió cả ngày và đêm, điều thú vị hơn cả là cát biển Hải Thịnh không phải mầu trắng hay vàng mà ánh xanh mịn màng. Nơi đây có Cồn Lu, Cồn Ngạn nằm cách bờ biển khoảng 20 km với nhiều loại động thực vật phong phú, quý hiếm. Do môi trường trong sạch, khí hậu thiên nhiên ưu đãi, thức ăn ở đây tươi ngon nhưng giá cả cũng phải chắng....
Gỏi nhệch là một loại đặc sản của các huyện ven biển Nam Định. Bạn có thể đã được thưởng thức đặc sản gỏi nhệch Nghĩa Hưng hay gỏi nhệch Hải Hậu nhưng hãy một lần thưởng thức món gỏi nhệch Giao Thủy để cảm nhận sự khác biệt trong cách chế biến cũng như hương vị đặc trưng của loại đặc sản này tại miền quê Giao Thủy đầy nắng và gió...
Văn phòng Hồ Chí Minh: 165 Phạm Ngũ Lão, Quận 1, HCMc
- Tel: (08) 39206541 - 39206542
- Fax: (08) 38360858
Chủ Nhật, 27 tháng 10, 2013
Lễ Các Thánh
Lễ Các Thánh (hoặc "Lễ Các Thánh Nam Nữ") là một lễ được tổ chức trọng đại vào ngày 1 tháng 11 hằng năm trong Kitô giáo Tây phương hoặcChủ nhật đầu tiên sau Lễ Ngũ Tuần trong Kitô giáo Đông phương, nhằm tôn vinh tất cả các vị thánh Kitô giáo đang hưởng phúc trên thiên đàng. Ở nhiều quốc gia có truyền thống Công giáo, Lễ Các Thánh là một ngày lễ nghỉ.
Trong Giáo hội Công giáo Rôma và nhiều giáo hội Anh giáo, tiếp theo sau ngày Lễ Các Thánh là ngày Lễ Các Đẳng (hoặc Lễ Các Đẳng Linh Hồn) vì họ tin rằng có sự cầu nguyện hiệp thông giữa những người đang sống ở trần thế và những người đã được lên thiên đàng (Các Thánh) dành cho những người đang trong tình trạng thanh tẩy ở luyện ngục (Các Đẳng) để Thiên Chúa xá tội cho họ.
Văn hóa Đông Nam Bộ
Vùng văn hóa Nam bộ: Định vị và đặc trưng văn hóa
04/06/2009 23:28 | 26,398 lượt xem

1. ĐỊNH VỊ VÙNG VĂN HOÁ NAM BỘ
1.1. Không gian văn hoá
Về phạm vi, vùng văn hoá này bao gồm địa bàn 19 tỉnh thành: Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, TP. Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau. Có thể chia thành ba tiểu vùng văn hoá: tiểu vùng Đông Nam Bộ, tiểu vùng Tây Nam Bộ, và tiểu vùng Sài Gòn.
Về địa hình, đây là một vùng đồng bằng sông nước rất đặc trưng, có diện tích (6.130.000ha) và độ phì nhiêu cao nhất trong tất cả các đồng bằng nước ta. Toàn vùng có đến 4.000 kinh rạch, dài tổng cộng 5.700km. Địa hình và thổ nhưỡng của hai tiểu vùng có khác nhau: Đông Nam Bộ có độ cao 100m-200m là vùng đất đỏ bazan và đất phù sa cổ; Tây Nam Bộ có độ cao trung bình chưa đầy 2m, là vùng đất phù sa mới. Đồi núi trong vùng không nhiều và tập trung ở miền Đông, như núi Bà Rá (Bình Phước, 736m), núi Chứa Chan (Đồng Nai, 839m), núi Bao Quan (Bà Rịa - Vũng Tàu, 529m), núi Thị Vải (Bà Rịa - Vũng Tàu, 461m), núi Bà Đen (Tây Ninh, 986m)... Ở miền Tây chỉ có hai điểm cao là dãy Thất Sơn (An Giang, cao nhất là núi Cấm 718m), dãy Hàm Ninh (Kiên Giang, cao nhất là núi Chúa 602m).
Hai hệ thống sông lớn nhất của vùng là hệ thống sông Đồng Nai và hệ thống sông Cửu Long.Hệ thống sông Đồng Nai ở khu vực Đông Nam Bộ có lượng phù sa khá thấp, tốc độ bồi lắng ven biển khá chậm, nhưng nhờ lòng sông sâu nên là nơi tập trung các cảng chính của khu vực như cảng Sài Gòn, cảng Cát Lái, cảng Hiệp Phước, cảng Phú Mỹ... Hệ thống sông Cửu Long đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thành đồng bằng sông Cửu Long mà diện tích lên tới 39.734km². Với lượng nước trung bình hằng năm vào khoảng 4.000 tỷ mét khối, vận chuyển khoảng 100 triệu tấn phù sa, sông Cửu Long đã phối hợp với biển Đông để tạo ra những vạt đất phù sa phì nhiêu dọc theo đê ven sông, các giồng cát ven biển và đất phèn trên trầm tích đầm mặn trũng thấp như vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên, Tây Nam sông Hậu và bán đảo Cà Mau. Điểm bất lợi là lượng phù sa bồi lắng quá lớn làm cạn các luồng lạch và cửa biển. Các hồ lớn ở miền Đông như Thác Mơ trên sông Bé, Trị An trên sông Đồng Nai, Dầu Tiếng trên sông Sài Gòn, là những hồ nước nhân tạo trữ nước cho thuỷ điện và điều hoà lưu lượng cho hệ thống sông Đồng Nai. Các vùng trũng ở miền Tây nhưĐồng Tháp Mười ở hai bên sông Tiền, tứ giác Long Xuyên ở phía Tây sông Hậu, là những hồ nước thiên nhiên góp phần điều hoà lưu lượng cho sông Cửu Long vào mùa nước nổi tháng 9, tháng 10. Ngoài khơi là vùng biển nông, có nhiều đảo và quần đảo như Côn Sơn, Thổ Chu, Nam Du, Phú Quốc...
Về khí hậu, Nam Bộ là vùng tương đối điều hoà, ít bão, quanh năm nóng ẩm, không có mùa lạnh. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4.
1.2. Thời gian văn hoá
Nam Bộ là nơi có nhiều nền văn hoá cổ. Ở suối Gia Liêu, ở Hang Gòn (Đồng Nai), ở Dầu Giây (Lộc Ninh, Bình Phước), đã phát hiện những công cụ đá của người vượn, niên đại khoảng 300.000 năm trước. Khoảng 5.000-4.000 năm trước, người Indonesian đã đến đây khai phá, tạo nên văn hoá Đồng Nai. Khoảng 3.000 năm trước, người Indonesian đã dựng nên trung tâm văn hoá kim khí lớn, gồm 4 vùng kinh tế - dân cư ở miền Đông Nam Bộ hợp thành, hoàn chỉnh nền văn hoá Đồng Nai. Gần đây, các nhà khảo cổ còn tìm thấy ở An Sơn phía Đông Bắc tỉnh Long An các di chỉ hậu kỳ đồ đá mới cách nay 3.000 năm, và ở Rạch Núi phía Đông Nam tỉnh di chỉ đồ sắt cách nay 2.700 năm.
Đôi ba thế kỷ trước và sau Công nguyên, người Indonesian mở rộng cuộc khai phá xuống vùng thấp, mở rộng giao lưu với các dân tộc ở Đông Dương và Đông Nam Á hải đảo và có thể với Ấn Độ. Từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VIII, người Indonesian và nhiều lớp người ngoại nhập (Thiên Trúc, Nguyệt Thị, Nam Dương...) tạo lập nền văn hoá Óc Eo ở đồng bằng Nam Bộ và Đông Campuchia, dựng nên vương quốc Phù Nam hùng mạnh. Ngoài trung tâm Óc Eo, nhà nước Phù Nam còn có một trung tâm chính trị, văn hoá và tôn giáo nữa trên vùng đất Long An, nơi có tới 100 di tích văn hoá Óc Eo với 12.000 hiện vật, đặc biệt là quần thể di tích Bình Tả, gồm ba cụm di tích: Gò Xoài, Gò Đồnvà Gò Năm Tước, có niên đại từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VII.
Vào khoảng năm 550, vương quốc Chân Lạp tiêu diệt Phù Nam . Nền văn hoá Óc Eo vẫn còn tiếp diễn ở một số nơi trên đồng bằng sông Cửu Long nhưng đến cuối thế kỷ VIII thì tàn lụi hẳn, trùng hợp với các cuộc tấn công tàn phá của người Java. Mặc dù vào đầu thế kỷ VIII đã có chứng tích về sự hiện diện của người Chân Lạp trên đồng bằng Nam Bộ, nhưng tình trạng chung của toàn vùng kể từ thời điểm đó là hoang phế.
Người Khmer chỉ thực thụ định cư ở Nam Bộ từ đầu thế kỷ XVI, tức sau khi vương quốc Chân Lạp bị người Xiêm đánh bại, phải dời đô đến Phnom Penh ngày nay vào năm 1434, và chuyển trọng tâm đất nước từ Tây Bắc xuống Đông Nam Biển Hồ. Theo truyền thống, nơi họ chọn để định cư là các vùng đất cao ở Nam Bộ, tạo thành các khu vực cư trú tập trung ở Sóc Trăng, Trà Vinh, An Giang và rải rác ở các nơi khác. Bộ máy hành chánh được thiết lập đến cấp srok (xứ), và được nối dài với bộ máy tự quản ở cấp khum (xã), phum (buôn) và một mạng lưới chùa chiền dày đặc.
Khoảng cuối thế kỷ XVI, đã có những người Việt đầu tiên vượt biển tới khai phá vùng đất này. Nhờ cuộc hôn nhân giữa công nữ Ngọc Vạn với vua Chân Lạp Chey Chetta II từ năm 1620, mối quan hệ giữa Đàng Trong và Chân Lạp trở nên êm đẹp, dân cư hai nước có thể tự do qua lại sinh sống. Khu vực Sài Gòn, Đồng Nai bắt đầu xuất hiện những người Việt định cư. Năm 1623, chúa Nguyễn sai một phái bộ tới yêu cầu vua Chey Chettha II cho lập đồn thu thuế tại Prei Nokor (Sài Gòn) và Kas Krobei (Bến Nghé). Tuy đây là vùng rừng rậm hoang vắng nhưng lại nằm trên đường giao thông của các thương nhân Việt Nam qua Chân Lạp và Xiêm. Hai sự kiện quan trọng tiếp theo của thời kỳ này là lập doanh trại và dinh thự của Phó vương Nặc Nộn và lập đồn dinh ở Sài Gòn.
Người Hoa bắt đầu di dân đến Nam Bộ từ năm 1679, khi chúa Nguyễn Phúc Tần cho các tướng "phản Thanh phục Minh" Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên và 3.000 người tuỳ tùng tớiMỹ Tho, Biên Hoà và Sài Gòn để khai khẩn, định cư. Năm 1680, Mạc Cửu và những người Hoa tuỳ tùng đến Chân Lạp, chiêu tập lưu dân lập ra 7 thôn xã từ Vũng Thơm đến Cà Mau, đến năm 1708 cũng xin thần phục chúa Nguyễn. Vào năm 1756, cả nước có khoảng 30.000 người Hoa. Từ giữa thế kỷ XIX, sau cuộc chiến tranh Nha phiến và cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên quốc, đông đảo người Hoa từ các địa phương Trung Quốc lại tiếp tục di dân đến Việt Nam.
Người Chăm Nam Bộ nguyên là di dân người Chăm ở Chân Lạp, gọi là người Côn Man. Năm 1756, sau khi người Côn Man bị quân Chân Lạp đuổi đánh, Nguyễn Cư Trinh đã tâu xin chúa Nguyễn và đưa họ về định cư ở Châu Đốc, Tây Ninh. Về sau, người Chăm ở Châu Đốc (An Giang) tiếp tục di dân đến Kiên Giang, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Phước, Bình Dương...
Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Thống suất Chưởng cơ Nguyễn Hữu Kính vào kinh lý miềnNam . Trên cơ sở những lưu dân Việt đã tới khu vực Đồng Nai - Gia Định (Đông Nam Bộ), gồm khoảng 40.000 hộ với 200.000 khẩu, Nguyễn Hữu Kính cho lập phủ Gia Định, gồm hai dinh Trấn Biên, Phiên Trấn, với hai huyện Phước Long, Tân Bình. Đến năm 1779 thì cương vực của phủ Gia Định đã bao trùm toàn vùng Nam Bộ hiện nay. Chỉ riêng Trà Vinh và Sóc Trăng có giao lại cho vua Chân Lạp cai quản một thời gian, nhưng đến năm 1835 cũng được sát nhập vĩnh viễn vào lãnh thổ Việt Nam. Kể từ đó đến nay, vùng đất này đã trải qua 8 lần thay đổi tên gọi cũng như vị trí của nó trong hệ thống hành chính: Gia Định Phủ (1698-1802), Gia Định Trấn (1802-1808), Gia Định Thành (1808-1832), Nam Kỳ (1832-1867), Cochinchine tức Nam Kỳ thuộc Pháp (1867-1945), Nam Phần (1945-1975), Nam Bộ (1945 đến nay).
Tóm lại, vào đầu thế kỷ XVI, ngoại trừ vùng cư trú của các tộc người bản địa Stiêng, Chrau, Mạ ở Đông Nam Bộ, hầu hết đất đai Nam Bộ đều là hoang hoá. Kể từ thời điểm đó, các cộng đồng lưu dân người Khmer, người Việt, người Hoa, người Chăm mới nối tiếp nhau tiến vào Nam Bộ, chia nhau khai khẩn, đào kinh, canh tác, định cư, buôn bán, dần dần biến một vùng đất hoang vu rộng lớn thành những vùng nông nghiệp trù phú và những đô thị sầm uất. Nền văn hoá Nam Bộ cũng từ đó đã hình thành như một kết quả dung hợp giữa cái nền là văn hoá Việt với những yếu tố tiếp biến từ văn hoá Chăm, Khmer, Hoa... và cả phương Tây sau này. Gọi Nam Bộ là vùng đất mới, là theo nghĩa đó.
1.3. Chủ thể văn hoá
Hiện nay, Nam Bộ là nơi cư trú của người Việt và các tộc người thiểu số là cư dân bản địa: Stiêng, Chrau, Mạ, hoặc di dân: Khmer, Hoa, Chăm, Tày, Nùng, Mường, Thổ... Người Stiêng cư trú ở Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh, Lâm Đồng, Đắk Lắk, có dân số 66.788 người, trong đó riêng Nam Bộ là 66.425 người (1/4/1999). Người Chrau cư trú ở Đồng Nai, Bình Phước, Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu, có 22.567 người, riêng Nam Bộ là 22.467 người. Người Mạ có dân số 33.338 người thì cư trú chủ yếu ở Lâm Đồng, ở Đồng Nai thuộc Đông Nam Bộ chỉ có 2.482 người Mạ.
Người Khmer cư trú ở Sóc Trăng (350.000 người, chiếm 28,9% dân số toàn tỉnh, 32,1% tổng số người Khmer cả nước), Trà Vinh (290.900 người, chiếm 30,1% dân số toàn tỉnh, 27,6% số người Khmer cả nước), An Giang, Bạc Liêu, Vĩnh Long, Kiên Giang, Tây Ninh..., với dân số 1.055.174 người. Người Hoa cư trú ở thành phố Hồ Chí Minh (428.576 người), Vĩnh Long, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cần Thơ, Kiên Giang, Bạc Liêu..., với dân số 862.371 người, riêng Nam Bộ là khoảng 800 ngàn người. Người Chăm có dân số 132.873 người, cư trú chủ yếu Nam Trung Bộ, nhưng ở An Giang (12.435 người), thành phố Hồ Chí Minh (5.192 người), Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Phước, Kiên Giang, Bình Dương... thuộc địa bàn Nam Bộ cũng có 24.288 người Chăm.
Các tộc người khác thì di dân vào Nam Bộ theo ba đợt chính: di dân có tổ chức vào các năm 1954, 1975, và di dân tự do ồ ạt từ năm 1994. Trường hợp tiêu biểu là địa bàn tỉnh Bình Phước. Vào năm 1998, trên địa bàn này đã có 468.000 người Việt (hơn 82% dân số), 12.000 người Tày, và 11.000 người Nùng. Trong lúc đó, dân số người Stiêng tại chỗ chỉ tăng từ 49.177 người vào năm 1989 lên 55.250 người vào năm 1999. Do đó mà người Stiêng ngày càng thiếu đất canh tác và luật tục về quyền sở hữu cộng đồng của họ đối với đất rừng bị xâm phạm nghiêm trọng.
Do vậy, Nam Bộ cũng là một vùng đất đa tộc người. Tuy nhiên, chủ thể văn hoá chính của toàn vùng vẫn là người Việt, tộc người đa số mà dân số ở riêng Nam Bộ lên đến hơn 26 triệu người, chiếm 90,9% dân số của vùng. Riêng ở tiểu vùng Tây Nam Bộ, chủ thể văn hoá chính bên cạnh người Việt còn có người Khmer và người Hoa. Người Khmer là một tộc người thiểu số đông dân, xếp thứ 5 trong 54 tộc người ở Việt Nam, và có trình độ kinh tế - xã hội phát triển. Người Hoa cũng là một tộc người thiểu số đông dân, xếp thứ 6 trong 54 tộc người ở Việt Nam, và có trình độ kinh tế - xã hội phát triển. Do quê quán khác nhau và nhập cư vào những thời điểm khác nhau, nên người Hoa ở Việt Nam và Nam Bộ nói riêng là một tộc người không thuần nhất về nguồn gốc và ngôn ngữ. Những người Hoa đến Nam Bộ vào thế kỷ XVII-XVIII, gọi là người Minh Hương, thì phần nhiều con cháu đều đã trở thành người Việt, đóng góp vào văn hoá Việt nơi đây những yếu tố đặc thù của văn hoá người Hoa. Còn những người Hoa vẫn còn giữ nguyên ý thức tộc người mà trước đây gọi là người Đường, thì chủ yếu là con cháu của di dân người Hoa đến Nam Bộ vào thế kỷ XIX-XX. Ngoài ra, trong văn hoá Nam Bộ còn có những yếu tố Chăm. Nhưng đó là do người Việt đã hấp thu từ văn hoá Chăm ở Nam Trung Bộ. Còn bản thân người Chăm Nam Bộ thì do dân số ít và sinh hoạt khép kín nên không tác động đáng kể vào văn hoá Việt trong vùng, không đóng vai trò chủ thể văn hoá chính nơi đây.
2. ĐẶC TRƯNG VĂN HOÁ NAM BỘ
Hình thành trên một vùng đồng bằng sông nước và trên một vùng đất đa tộc người, văn hoá Nam Bộ có hai đặc trưng chủ đạo là đặc trưng đồng bằng sông nước và sự tiếp biến các yếu tố văn hoá của người Chăm, người Khmer, người Hoa vào văn hoá Việt trong vùng. Xét về mức độ, những đặc trưng chủ đạo này cũng là những nét đặc thù của vùng văn hoá Nam Bộ. Bởi vì mặc dù đặc trưng đồng bằng sông nước cũng có mặt trong các vùng văn hoá đồng bằng ở Bắc Bộ và Trung Bộ, nhưng chỉ ở Nam Bộ yếu tố sông nước mới nổi lên thành một đặc trưng chủ đạo, chi phối toàn diện cuộc sống cũng như các thành tố văn hoá của các cộng đồng cư dân. Và mặc dù các vùng văn hoá đồng bằng ở Bắc Bộ và Trung Bộ đều có tiếp biến văn hoá của các tộc người khác nhau, nhưng chỉ ở Nam Bộ văn hoá các tộc người thiểu số cộng cư mới đủ sức khúc xạ văn hoá của cư dân Việt trong vùng đến mức làm cho nó trở nên vừa quen vừa lạ đối với chính người Việt đến từ miền Bắc, miền Trung.
2.1. Cách thức hoạt động sản xuất
Do điều kiện địa lý đặc thù, nên cách thức hoạt động sản xuất của cư dân trên vùng đất phì nhiêu rộng lớn này mang đặc trưng đồng bằng sông nước rõ nét nhất, đồng thời cũng đa dạng nhất so với tất cả các vùng miền khác. Nhờ sông Cửu Long có tốc độ dâng nước và tốc độ dòng chảy thấp, người ta không cần phải đắp đê ngăn lũ như ở đồng bằng sông Hồng, mà ngược lại còn tận dụng nguồn nước này vào mùa lụt để đưa nước ngọt và phù sa vào ruộng, rửa phèn ở vùng trũng, đánh bắt thuỷ sản, v.v. Không chỉ thế, sông nước nơi đây còn là tiền đề phát triển các nghề buôn bán trên sông, vận tải đường sông, v.v. Cho nên, không ở đâu có nhiều từ ngữ để chỉ các loại hình và hoạt động sông nước như ở vùng này: sông, lạch, kinh, rạch, xẻo, ngọn, rọc, tắt, mương, rãnh, ao, hồ, đìa, hào, láng, lung, bưng, biền, đầm, đìa, trấp, vũng, trũng, gành, xáng, vịnh, bàu...; nước lớn, nước ròng, nước đứng, nước nhửng, nước rông, nước rặc, nước lên, nước xuống, nước nhảy, nước chụp, nước rút, nước nổi, nước lụt, nước lềnh, nước cạn, nước xiết, nước xoáy, nước ngược, nước xuôi... Sông nước đã trở thành một yếu tố cấu thành đặc trưng của văn hoá nơi đây.
Trước hết, do diện tích có thể trồng lúa trên cả hai vùng châu thổ rất rộng lớn và phì nhiêu nên ở nơi đây, truyền thống nông nghiệp lúa nước của người Việt đã được phát huy ở mức tối đa: Nam Bộ sản xuất đến 50% lúa cả nước, và góp phần chính yếu vào sản lượng gạo xuất khẩu hằng năm trên 4 triệu tấn của cả nước. Nhiều thương hiệu lúa gạo của Nam Bộ rất nổi tiếng trên thị trường trong và ngoài nước, như gạo Tài Nguyên, gạo Nàng Hương Chợ Đào (Cần Đước, Long An), v.v.
Nam Bộ cũng là nơi sản xuất đến 70% trái cây cả nước. Các tỉnh miền Đông có sầu riêng, mít, bưởi, măng cụt, vú sữa, chôm chôm... Long An có đặc sản dưa hấu Long Trì, dứa Bến Lức. Bến Tre có cam, quít, sầu riêng, chuối, chôm chôm, măng cụt, mãng cầu, xoài cát, bòn bon, khóm,vú sữa, bưởi da xanh, trồng nhiều ở Chợ Lách, Giồng Trôm, Mỏ Cày và Châu Thành. Vĩnh Long nổi tiếng khắp Việt Nam với đặc sản bưởi Năm Roi, v.v.
Nam Bộ cũng là vùng trồng cây công nghiệp lớn nhất nước. Các tỉnh miền Đông có cao su, điều, đậu phộng... Các tỉnh miền Tây có dừa, mía, đậu phộng, thuốc lá, tiêu... Long An trồng nhiều đậu phộng ở Đức Hoà, trồng mía ở Thủ Thừa. Bến Tre có gần 40.000ha dừa, cho rất nhiều trái và lượng dầu cao. Ngoài nước uống và dầu, dừa còn cho các sản phẩm khác là than dừa, vỏ dừa làm thảm dừa, dây dừa, kẹo dừa. Mía được trồng nhiều tại các vùng đất phù sa ven sông rạch tại Mỏ Cày, Giồng Trôm. Diện tích trồng thuốc lá tập trung ở Mỏ Cày, nơi có loại thuốc thơm nổi tiếng. Ngoài ra huyện Chợ Lách (Bến Tre) còn là nơi trồng các loại hoa kiểng, bonsai nổi tiếng.
Sở hữu một vùng sông nước lắm thuỷ sinh và được biển bao quanh hai phía, Nam Bộ cũng là một ngư trường giàu có nhất nước, là cơ sở đề phát triển các nghề đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thuỷ sản. Đánh bắt thuỷ sản phát triển cả ở vùng đầu nguồn, vùng cửa sông và vùng biển. Chế biến thuỷ sản rất phát triển ở TP. Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Phú Quốc. Nước mắm Phú Quốc là một thương hiệu nổi tiếng cả nước và quốc tế. Nghề nuôi cá bè trên sông phát triển ở Đồng Nai, Châu Đốc... Ngoài ra, do tôm cá dồi dào nên Nam Bộ cũng là nơi có nhiều sân chim nhất trong cả nước. Hầu như tỉnh nào ở miền Tây cũng có sân chim, trong đó nổi tiếng nhất là các sân chim ở Bến Tre, Đồng Tháp, Bạc Liêu, Cà Mau. Mỗi sân chim là nơi trú ngụ của hàng trăm ngàn chim thú hoang dại như, cò, vạc, sếu... cùng với thảm thực vật phong phú của môi trường đồng bằng và ven biển nhiệt đới gió mùa.
Các nghề thủ công truyền thống cũng khá phát triển. Bình Dương là nơi có nhiều làng nghề truyền thống với các nghệ nhân điêu khắc gỗ, làm đồ gốm và tranh sơn mài. Từ xa xưa các sản phẩm gốm mỹ nghệ, sơn mài và điêu khắc của Bình Dương đã tham gia hội chợ quốc tế, đồng thời cũng đã xuất khẩu sang Pháp và nhiều nước trong khu vực. Bến Tre có làng nghề chế biến các sản phẩm từdừa và mật ong trên cồn Phụng thuộc huyện Châu Thành, v.v.
Việc giao thương của vùng cũng mang đặc thù sông nước. Từ xưa, các trung tâm giao thương lớn của vùng đều được hình thành ven bờ sông rạch, thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hoá: Nông Nại Đại phố, Mỹ Tho Đại phố, Sài Gòn, Cần Thơ... Đặc biệt ở miền Tây còn có các chợ nổi mà toàn bộ hoạt động đều diễn ra trên sông nước. Chợ nổi Long Xuyên (An Giang) là nơi hàng trăm ghe xuồng tụ tập để buôn bán hàng hoá nông sản như bánh canh ngọt, lạt, bánh tầm, bánh bò, hủ tiếu, chè đậu đỏ, cà phê... Chợ nổi Cái Răng (Cần Thơ) tụ họp hàng trăm ghe từ tờ mờ sáng, bán đủ loại sản phẩm miệt vườn được treo trên một cây sào cắm trước mũi ghe gọi là "cây bẹo". Người mua chỉ cần nhìn vào "cây bẹo" là biết ngay ghe bán thứ gì. Tương tự là chợ nổi Cái Bè (Tiền Giang), chợ nổi Phụng Hiệp (Hậu Giang)... Là nơi "dân thương hồ" lui tới mưu sinh, chợ nổi đã trở thành một nét sinh hoạt văn hoá rất đặc thù của miền Tây sông nước, và được ngành du lịch khai thác như một sản phẩm du lịch độc đáo dành cho du khách.
Người Khmer Nam Bộ chủ yếu làm nghề trồng lúa nước trên đất giồng và vùng chân giồng, nơi đất đai màu mỡ thích hợp cho việc trồng lúa nước và các loại hoa màu, hoặc vùng đất giữa các giồng chính và giồng nhánh, nơi có đất tốt có thể trồng liên tục các loại lúa, khoai lang, bắp, dưa hấu, rau đậu. Từ cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, do dân số gia tăng và đất hoang ngày càng ít, người Khmer đã khai phá cả những mảnh đất bưng phèn ở các vùng ngập mặn chỉ có thể cấy lúa một vụ. Bên cạnh việc trồng lúa nước, người Khmer còn trồng hoa màu trên đất rẫy. Ở vùng ven sông biển, người Khmer cũng làm nghề đánh bắt cá mà chủ yếu là cá đồng, cá sông, với kỹ thuật và ngư cụ giống như người Việt. Nghề chăn nuôi nhìn chung còn gắn với nông nghiệp, mặc dù đã hình thành được những đàn bò, trâu, vịt tàu... khá lớn. Các nghề thủ công đan mây tre, đan đệm, dệt chiếu rất phổ biến. Nghề dệt và làm gốm còn duy trì ở An Giang, Kiên Giang.
Người Hoa ở nông thôn Nam Bộ chủ yếu làm các nghề nông, nghề rừng, nghề cá, nghề muối, nghề sắt. Người Hoa ở vùng đô thị thì hoạt động kinh tế chủ yếu là sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, vận tải. Thời Pháp thuộc, người Hoa nắm độc quyền vận chuyển hàng hoá từ miền Tây về Sài Gòn - Chợ Lớn, từ Sài Gòn - Chợ Lớn lên cao nguyên, độc quyền thu mua xay xát lúa gạo dành cho xuất khẩu, và độc quyền mua bán hàng hoá với Miên và Lào. Dù ở thời kỳ nào, các cộng đồng người Hoa ở Nam Bộ cũng nỗ lực duy trì sự bền vững về kinh tế cũng như bản sắc văn hoá riêng. Các hoạt động kinh tế rất thành công của người Hoa đã góp phần thay đổi quan niệm trọng nông khinh thương của người Việt Nam, và góp phần thúc đẩy quá trình đô thị hoá ở Sài Gòn - Chợ Lớn và các tỉnh thành khác ở phía Nam.
Người Chăm Nam Bộ chủ yếu làm các nghề đánh cá, làm ruộng, buôn bán, dệt vải. Ở An Giang, có nghề dệt sarong (xà-rông), dệt kama (khăn tắm, khăn rằn), thêu khăn, đan lưới... của phụ nữ Chăm, phục vụ nhu cầu ăn mặc theo truyền thống của người Chăm và dùng để trao đổi trong vùng. Năm 1999, Hợp tác xã Dệt thêu Châu Giang đã được thành lập tại cộng đồng Chăm tỉnh An Giang nhằm bảo tồn và phát triển nghề dệt truyền thống. Ở miền Đông Nam Bộ, hoạt động kinh tế của người Stiêng chủ yếu là làm nương rẫy trồng lúa, và làm một ít ruộng nước. Săn câu lượm hái là ngành kinh tế phụ, rất thiết thực vào mùa giáp hạt. Nghề thủ công có đan lát, làm đồ gốm, dệt vải. Hoạt động kinh tế của người Chrau chủ yếu là làm nương rẫy. Săn câu lượm hái vẫn còn giữ vị trí nhất định trong đời sống hằng ngày. Nghề thủ công kém phát triển, chỉ có một ít nghề phụ gia đình như đan, rèn, mộc.
2.2. Cách thức tổ chức xã hội cổ truyền
Đến Nam Bộ để khai hoang lập ấp, người Việt cũng theo truyền thống để tổ chức quần cư thành làng ấp. Tuy nhiên, về nội dung và hình thức, làng ấp của người Việt Nam Bộ có nhiều điểm khác biệt với làng quê ở đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ. Về nội dung, làng ấp của người Việt ở Nam Bộ là một tập hợp cư dân đến từ nhiều vùng, nhiều họ tộc khác nhau, gắn bó với nhau không phải do quan hệ dòng họ mà chủ yếu là do quan hệ láng giềng. Tập hợp cư dân của mỗi làng ấp cũng thường xuyên biến động hơn, kẻ đến người đi đổi chỗ cho nhau, nên không có sự phân biệt đáng kể giữa dân chính cư với dân ngụ cư. Về hình thức, để tiện việc đi lại, làng ấp ở Nam Bộ thường hình thành dọc theo kinh rạch hoặc trục lộ, không có luỹ tre làng đóng kín. Do đó, tính cố kết cộng đồng của làng ấp Nam Bộ lỏng lẻo hơn làng quê ở đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ.
Người Khmer Nam Bộ theo chế độ gia đình song hệ nhưng đang trong xu hướng chuyển sang phụ hệ. Hình thức gia đình chủ yếu là tiểu gia đình, mặc dù vẫn còn tồn tại các đại gia đìnhgồm 3, 4 thế hệ sống chung trong các phum nhỏ. Hình thức tổ chức cộng đồng cơ sở là phum, bao gồm dăm ba gia đình có quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân với nhau, phát triển từ công xã thị tộc mẫu hệ nguyên thuỷ, đứng đầu là mê phum. Nhưng cũng có phum lớn, bao gồm cả trăm gia đình thuộc nhiều dòng họ khác nhau. Các gia đình trong phum là những đơn vị kinh tế độc lập, có ruộng đất, tài sản, sinh hoạt và sản xuất riêng. Hình thức tổ chức cao hơn phum là khum thì trên thực tế đã được thay thế bằng đơn vị xã. Nhưng hình thức tổ chức srok (sóc) thì vẫn còn tồn tại. Mỗi sóc bao gồm vài chục phum lớn nhỏ. Ranh giới giữa các sóc thường được xác định qua vị trí ngôi chùa và tên gọi riêng của sóc. Đứng đầu sóc là mê sóc, giúp việc là ban quản trị sóc do dân sóc bầu ra. Bên cạnh bộ máy tự quản của sóc là bộ máy quản lý của chùa gồm một vị sư cả, các vị sư phó, giúp việc cho họ là một ban quản trị chùa và các wên là tổ chức quần chúng tín đồ. Sự vận hành của sóc dựa trên tập quán truyền thống và những định chế của Phật giáo. Cũng như làng ấp của người Việt Nam Bộ, sóc của người Khmer Nam Bộ không có sự phân biệt đáng kể giữa dân chính cư và dân ngụ cư.
Người Hoa ở Nam Bộ theo chế độ gia đình phụ hệ và cố gắng duy trì hình thức đại gia đình, mặc dù hình thức tiểu gia đình đã phổ biến. Về hình thức tổ chức cộng đồng, vào năm 1834 vua Minh Mạng đã chia di dân gốc Hoa thành hai nhóm: người Minh Hương thì tổ chức thành làng xãtheo kiểu người Việt, còn người Đường (Thanh) thì tổ chức thành các bang, căn cứ theo phương ngữ, nguồn gốc. Số lượng bang thay đổi từ 4 (1790) đến 7 (1802), 4 (1871), cuối cùng là 5 bang: Quảng Châu, Phúc Kiến, Triều Châu, Hải Nam , Hạ Châu (1885), tồn tại đến năm 1960. Các bang này vừa là tổ chức xã hội của người Hoa, vừa là những tổ chức hành chính chính thức điều hành các quan hệ xã hội, từ chính trị đến kinh tế và văn hoá của các nhóm cộng đồng. Bên cạnh đó, người Hoa ở Việt Nam còn lập ra các hội, như Thiên Địa Hội là một hội kín phản Thanh phục Minh, đến đầu thế kỷ XX thì phân rã. Đầu thế kỷ XX, người Hoa ở Việt Nam thành lập Việt Nam - Trung Hoa Tổng thương hội. Đến năm 1925 thì thành lập Phòng Thương mại người Hoa, hoạt động mở rộng dần từ kinh tế sang chính trị, xã hội, ngoại giao, phạm vi khắp các tỉnh phía Nam và cả nước... Các tổ chức bang hội vừa đáp ứng nhu cầu liên kết tương trợ của những người Hoa cùng phương ngữ và quê quán, vừa đáp ứng nhu cầu về quan hệ thân tộc và huyết thống vốn có của người Hoa. Trong quan hệ với người Việt, người Hoa di cư không tự coi mình là "dân tộc thiểu số", và vẫn nuôi dưỡng lòng tự hào của một dân tộc văn minh. Tính biệt lập và khép kín là đặc điểm nổi bật nơi các cộng đồng người Hoa di cư, nhất là người Hoa ở vùng đô thị. Còn người Hoa ở nông thôn thì quan hệ mật thiết hơn với các cư dân sở tại.
Người Chăm Nam Bộ do hầu hết theo đạo Hồi nên chế độ gia đình thiên về phụ hệ, mặc dù chế độ mẫu hệ cổ truyền vẫn còn được bảo lưu. Hình thức tổ chức xã hội cổ truyền là các palaycũng đã chuyển hoá thành các jammaah là hình thức tổ chức cộng đồng cơ sở tập hợp những gia đình cư trú quây quần bên cạnh các thánh đường Hồi giáo (masjid, surau). Người Stiêng ở Đông Nam Bộ thì theo chế độ gia đình phụ hệ, hình thức đại gia đình là chủ yếu, nhưng đã xuất hiện nhiều tiểu gia đình. Mỗi đại gia đình cư trú trong một nhà sàn dài. Một số nhà không cố định hợp thành một buôn (Stiêng: bon, poh, văng, wăng, sóc).
2.3. Tín ngưỡng, phong tục, lễ hội
Về tín ngưỡng, là một vùng đất đa tộc người, Nam Bộ cũng là nơi gặp gỡ các tín ngưỡng tôn giáo sẵn có từ Bắc Bộ, Trung Bộ, đồng thời là cái nôi sinh thành những tín ngưỡng tôn giáo mới. Vì vậy, đây chính là vùng đất phong phú nhất về tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam . Tiếp nối truyền thống của người Việt ở đồng bằng Trung và Nam Trung Bộ, người Việt Nam Bộ cũng dành ưu tiên cho đạo Phật, kết hợp với tín ngưỡng vạn vật hữu linh và thờ cúng tổ tiên. Chùa chiền có mặt ở khắp đồng bằng, đặc biệt là những vùng đồi núi sót, có sơn thuỷ hữu tình. Ở Thất Sơn, có chùa Phật Lớn lâu đời, có tượng Phật Di Lặc được sách kỷ lục Việt Nam công nhận lớn nhất cả nước. Ở núi Bà Đen, có chùa Bà Đen nổi tiếng, v.v. Đạo Phật kết hợp với đạo Lão, đạo Khổng, đạo Kitô, đạo Thánh Mẫu, là cơ sở hình thành đạo Cao Đài trên vùng đất Nam Bộ. Tây Ninh là thánh địa của đạo Cao Đài. Hiện đạo Cao Đài có 2,7 triệu tín đồ. Đạo Phật cũng là cơ sở hình thành đạo Hoà Hảo ở An Giang. Hiện đạo này có khoảng 1 triệu tín đồ. Các tôn giáo trên cũng là cơ sở làm hình thành nhiều "đạo" khác ở Nam Bộ. Những "đạo" này tuy ít tín đồ nhưng cũng góp phần giải quyết nhu cầu tâm linh của cư dân trên vùng đất mới trong lúc các tôn giáo lớn chưa phát triển trong vùng: Bà Rịa - Vũng Tàu có đạo Ông Trần; Bến Tre có đạo Dừa trên cồn Phụng thuộc xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, v.v. Ngoài ra, đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành cũng có đông tín đồ. Bên cạnh đó, họ cũng duy trì tín ngưỡng thờ cúng Bà Chúa Xứ ở núi Sam, thờ cúng Thành hoàng ở các đình miếu, thờ cúng Cá Ông ở các làng ven biển.
Phong tục của người Việt Nam Bộ cũng có nguồn gốc từ đồng bằng Trung và Nam Trung Bộ, nhưng có tiếp biến thêm nhiều yếu tố từ phong tục của người Khmer, người Hoa. Chẳng hạn, hầu hết người Việt Nam Bộ vẫn giữ tập quán giẫy mã vào ngày 25 tháng Chạp trước khi làm lễ đón ông bà vào ngày 30 tháng Chạp âm lịch, nhưng một bộ phận người Việt Nam Bộ cũng theo tập quán tảo mộ vào tiết Thanh minh tháng Ba âm lịch giống như người Hoa. Tính cách của người Việt Nam Bộ cũng có nhiều nét khác biệt với người Việt ở đồng bằng Trung và Nam Trung Bộ: cởi mở, không ưa sự ràng buộc, chuộng sự bình đẳng; trong mưu sinh thì có tinh thần mạo hiểm, bươn chải, đầu óc sáng tạo, nhanh nhạy với cái mới; trong ứng xử thì bộc trực, hào hiệp, trọng nghĩa, khinh tài, thích ăn chơi xả láng, v.v.
Tương ứng với với sự phong phú về cách thức hoạt động sản xuất và về tín ngưỡng, lễ hộicủa người Việt Nam Bộ cũng rất đa dạng, bao gồm bốn loại: lễ hội tín ngưỡng - tôn giáo, lễ hội nông nghiệp, lễ hội ngư nghiệp, lễ hội văn hoá - lịch sử. Tất cả đều mang sắc thái Nam Bộ mặc dù nhiều lễ hội bắt nguồn từ Trung Bộ. Lễ hội tín ngưỡng - tôn giáo bao gồm các lễ hội thường niên của đạo Phật, đạo Cao Đài, đạo Hoà Hảo, đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành, hội đền Linh Sơn Thánh mẫu ở núi Bà Đen... Nhưng lớn nhất vẫn là lễ hội Vía Bà Chúa Xứ ở núi Sam, Châu Đốc, một lễ hội đặc trưng của cư dân Nam Bộ, hằng năm thu hút đến 2,5 triệu người hành hương và du khách. Ở các đình làng, thường xuyên có các lễ hội Kỳ yên tiến hành vào đầu năm và cuối năm, để tạ ơn Thành hoàng Bổn cảnh, thần linh và các bậc tiền hiền, hậu hiền có công khai khẩn, khai cơ, giúp dân an cư lạc nghiệp. Ở vùng ven biển, lễ hội Nghinh Ông là sự kiện quan trọng bậc nhất trong đời sống văn hoá và tâm linh của cư dân. Ở Bà Rịa-Vũng Tàu, nơi có 10 đền thờ cá voi, nhiều nhất ở miền Nam, bên cạnh lễ hội Nghinh Ông còn có lễ Lệ Cô Long Hải từ 10/2 đến 12/2 âm lịch để thờ cúng Mẫu - Nữ thần và kết hợp cúng thần biển. Ở Bến Tre, lễ hội Nghinh Ông tiến hành vào ngày 16/6 âm lịch hằng năm tại các các làng ven biển thuộc huyện Bình Đại, huyện Ba Tri. Trong ngày hội, tất cả tàu thuyền đánh cá đều về tập trung để nghinh Ông, tế lễ, vui chơi và ăn uống. Ở Cần Giờ (TP. Hồ Chí Minh), Vàm Láng (Tiền Giang)... đều có lễ hội Nghinh Ông trọng thể hằng năm. Lễ hội văn hoá - lịch sử bao gồm các lễ tết cổ truyền như tết Nguyên đán, tết Đoan ngọ..., các lễ hội tưởng niệm các danh nhân có công mở đất như Nguyễn Hữu Kính, Nguyễn Văn Thoại (Thoại Ngọc Hầu), Lê Văn Duyệt, Trần Thượng Xuyên, và lễ hội tưởng niệm các anh hùng dân tộc như Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Võ Duy Dương, Đốc binh Kiều, Phan Công Hớn, Ngô Tán Đước, Nguyễn Thanh Long, Trương Văn Rộng, Trần Công Thận...
Người Khmer Nam Bộ theo đạo Phật Tiểu thừa Theravada, một tôn giáo mới du nhập từ thế kỷ XIII nhưng đã thay thế đạo Bà La Môn, chi phối rất sâu sắc đời sống của người Khmer. Đối với người Khmer, Phật là chỗ dựa tinh thần vững chắc nhất, là đấng thiêng liêng nhất, còn sư sãi là những người thay Đức Phật để hoằng hóa độ sinh, vì vậy rất được mọi người tôn kính. Nam giới Khmer đều được trải qua một thời kỳ tu tập tại chùa để trở thành một con người hoàn thiện về nhân cách, phẩm chất, khả năng. Bên cạnh đạo Phật, người Khmer vẫn duy trì tín ngưỡng thờ Neak tà là các nam thần bảo hộ con người và đất đai trong một khu vực, dưới hình tượng là những viên đá cuội bóng láng. Còn tín ngưỡng thờ Arăk là bà tổ dòng họ mẫu hệ, bảo hộ gia đình, nhà, khu đất, rừng, vốn phổ biến dưới thời Pháp thuộc, thì nay đã hiếm thấy. Các lễ hội truyền thống của người Khmer bao gồm hai loại chính là các lễ hội có màu sắc Phật giáo (bon) như lễ Phật đản (bon Pisakh Bâuchea), lễ nhập hạ (bon Châul Vâssa), lễ cầu phước (bon Đa), lễ hội linh (bon Pchum Bôn), lễ tang (bon Sôp)...; và các lễ hội văn hoá - lịch sử (pithi) như lễ Tết (pithi Chôl Chnam Thmây, 14-15-16/4 dương lịch, gồm nghi lễ đắp các núi cát và tắm Phật, tảo mộ ông bà, vui chơi), lễ cúng tổ tiên (pithi Sen Đônta, 29/8-1/9 âm lịch Khmer), lễ cúng trăng (pithi Sâm Peak Preach Khe, còn gọi là lễ đút cốm dẹp - Âk Âmbok, 15/10 âm lịch, gồm nghi lễ cảm tạ thần Mặt Trăng bảo hộ mùa màng, điều hòa thời tiết, đem lại ấm no, tổ chức đua ghe ngo - Um tuk ngua)... Các nghi lễ vòng đời có lễ cắt tóc (đầy tháng), lễ giáp tuổi (12 tuổi), lễ đi tu cho nam giới, lễ cưới, lễ chúc thọ, và lễ tang dùng hình thức hoả táng.
Người Hoa ở Nam Bộ phần nhiều theo các tín ngưỡng dân gian và thờ cúng tổ tiên. Hệ thống thần thánh của người Hoa rất phong phú và phức tạp. Các thần thánh được cộng đồng thờ cúng gồm Bà Thiên Hậu, Quan Thánh Đế Quân, Ngọc Hoàng, Ông Bổn, Khổng Tử... Trong đó, thánh nhân được thờ cúng nhiều hơn thần linh, và Thiên Hậu Thánh Mẫu, Quan Thánh Đế Quân, Phước Đức Chánh Thần là ba vị thần được tôn sùng bậc nhất. Bên cạnh đó là hàng chục vị thần của các địa phương. Trong gia đình, người Hoa thờ các vị thần bảo hộ gia đình: Thiên Quan Tứ Phước, Môn Thần, Thổ Địa Bản Gia, Táo Quân, Ngũ Phương Ngũ Thổ Long Thần, Tiền Hậu Địa Chủ Tài Thần, Quan Âm Bồ Tát, Thánh Mẫu, Quan Thánh Đế Quân, tổ tiên, tổ sư. Một số người Hoa cũng theo đạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành. Vì vậy, người Hoa có rất nhiều lễ hội: tết Nguyên đán 1/1 âm lịch, vía Ngọc Hoàng 9/1, vía Quan Công 13/1, tết Thượng nguyên 15/1, ngày Hàn thực 3/3, vía Ông Bổn 15/3, tiết Thanh minh tháng 3, vía Bà Thiên Hậu 23/3, lễ tế Khổng Tử và 72 tiên nho, tết Đoan ngọ 5/5, ngày cúng cô hồn 15/7, tết Trung thu 15/8, ngày Hạ nguyên 15/10, tiết Đông chí 15/11; chưa kể các nghi lễ vòng đời.
Người Chăm Nam Bộ hầu hết đều theo đạo Hồi (Islam), tôn thờ Thượng đế Allah và lấy Kinh Qur'an làm kim chỉ nam cho hoạt động tín ngưỡng của mình. Các lễ hội truyền thống của người Chăm Nam Bộ chủ yếu là lễ hội tín ngưỡng - tôn giáo: lễ Tolakbala vào ngày Thứ tư tuần cuối tháng Safar (tháng 2 Hồi lịch) để cầu xin Thượng đế ban sự bình an, lễ kỷ niệm ngày sinh của Đấng Muhammad vào ngày 12 tháng Rabiul Awal (tháng 3), lễ Raya Iadil Fitrah vào ngày cuối cùng của tháng chay nhịn Ramadan (tháng 9). Các nghi lễ vòng đời gồm có lễ đặt tên, cắt tóc cho trẻ sơ sinh (cha kak buk), lễ thành niên thực hiện tiểu phẫu (khotan) ở bộ phận sinh dục khi con trai và con gái đến 15 tuổi, hôn lễ, và tang lễ dùng hình thức địa táng. Người Stiêng, người Chrau thì vẫn bảo tồn tín ngưỡng vạn vật hữu linh, phong tục và lễ hội gần gũi với các tộc người nói tiếng Mon-Khmer ở Tây Nguyên.
2.4. Văn học, nghệ thuật
Nam Bộ có một kho tàng văn học, văn nghệ dân gian phong phú. Đó là các truyện dân gianphản ánh sự nghiệp khai phá đất đai, gắn liền với những danh thắng, di tích và nhân vật lịch sử. Đó là kho tàng ca dao và dân ca với các điệu hò, điệu lý, các bài hát huê tình, hát ru em, hát đồng dao, hát sắc bùa, hát thài, hát rối, hát vọng cổ, hát tài tử, v.v. Đặc biệt, hát vọng cổ và hát tài tử rất được người Nam Bộ ưa thích. Ngoài ra, Nam Bộ còn có một số thể loại văn học dân gian đặc sắc khác lànói vè, nói tuồng, nói thơ. Đây là loại hình tự sự dân gian khá phổ biến, nó thông tin nhanh những nỗi niềm, tâm sự. Trong đó, vè chiếm vị trí quan trọng, có những vè tiêu biểu như vè Chàng Lía, vè Trịnh Hâm, vè thầy Thông Chánh... Truyện thơ và hình thức diễn xướng nói thơ cũng là một hoạt động văn nghệ dân gian phổ biến tại Nam Bộ, với các truyện thơ nổi tiếng như Lục Vân Tiên, Phạm Công - Cúc Hoa, Thoại Khanh - Châu Tuấn, Lâm Sanh - Xuân Nương, Thạch Sanh - Lý Thông, Dương Ngọc, Hoàng Trừu, Tấm Cám, Hậu Vân Tiên... Hát bội (tuồng) từ miền Trung đưa vào đã phát triển mạnh mẽ trên đất Nam Bộ. Hầu hết các lễ hội thường có kèm theo hát bội. Ca nhạc tài tử phát sinh từ Gia Định rồi lan đến các tỉnh miền Tây, là một trong những cội nguồn của nghệ thuật cải lương là loại hình sân khấu mới ra đời tại Nam Bộ vào đầu thế kỷ XX. Trên cơ sở khai thác đặc điểm ngữ âm Nam Bộ và những thành tựu của ca nhạc, sân khấu dân gian và ca nhạc tài tử Nam Bộ, cùng với sự tiếp biến loại hình sân khấu kịch nói phương Tây, cải lương đã nhanh chóng trở thành một trong ba loại hình sân khấu dân tộc phổ biến ở Việt Nam.
Văn hoá bác học ở Nam Bộ cũng bước đầu phát triển với những thi đàn, thi xã như Tao đàn Chiêu Anh Các, Bình Dương Thi xã, Bạch Mai Thi xã, trường tư thục của Gia Định Xử sĩ Võ Trường Toản ở Hoà Hưng... Tao đàn Chiêu Anh Các còn để lại tác phẩm Hà Tiên thập vịnh. "Gia Định tam gia" là Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định và Ngô Nhân Tĩnh là tác giả các công trình biên khảo Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, Gia Định Thành thông chí... Ông nghè đầu tiên của Nam Bộ là Phan Thanh Giản đã làm Tổng tài biên soạn bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Trong thời kỳ cận đại, Nam Bộ có nhiều nhà thơ, nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu nổi tiếng, như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Bùi Hữu Nghĩa, Hồ Huân Nghiệp, Nguyễn Thông, Hồ Biểu Chánh, Trần Chánh Chiếu, Sương Nguyệt Anh, Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, v.v. Các sản phẩm văn hoá gốc phương Tây như chữ quốc ngữ, nhà in, báo chí, tiểu thuyết, thơ mới, trường học kiểu phương Tây, Âu phục... đều được phổ biến ở Nam Bộ trước tiên rồi mới phổ biến đến các vùng miền còn lại.
Là vùng đất mới, nhưng Nam Bộ cũng là nơi có nhiều di tích lịch sử - văn hoá như Văn miếu Trấn Biên, đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh ở Đồng Nai; di tích Rạch Gầm-Xoài Mút, di tích Ấp Bắc, luỹ Pháo Đài, lăng Hoàng Gia, lăng Trương Định, lăng Tứ Kiệt ở Tiền Giang; Văn Miếu ở Vĩnh Long, v.v. Gần đây, một số địa phương ở Nam Bộ đã tiến hành phục dựng, trùng tu các di tích này để tôn vinh những người có công đối với lịch sử và văn hoá của vùng đất phương Nam.
Người Khmer Nam Bộ có một kho tàng văn học dân gian rất phong phú bao gồm nhiều thể loại như truyện cổ tích (rương prêng), thần thoại (rương boran), tục ngữ (sopheaset), bài ca (châm riêng)..., và được chia làm hai mảng lớn là văn xuôi (peak sâmrai) và văn vần (kâm nap). Người Khmer Nam Bộ cũng có nhiều loại hình nghệ thuật rất độc đáo như múa, âm nhạc, sân khấu, kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ, trang trí... Trong đó, nghệ thuật múa được chú ý nhiều nhất, bao gồm múa dân gian và múa chuyên nghiệp. Ram vong, lâm lêv và sarvan là ba điệu múa dân gian phổ thông nhất, hầu như bất cứ người Khmer nào cũng biết. Ngoài ra là các điệu múa con sáo (sarikakev), múa trống chhayam, múa đám cưới, múa đám tang, múa cúng Neak Ta và cầu Arăk... Âm nhạc bao gồm nhạc sân khấu và nhạc dân gian. Nhạc cụ rất đa dạng, trong đó tiêu biểu là dàn nhạc gõ (phlêng pinpeat), thường được sử dụng trong những lễ nghi của Phật giáo, đám tang, đám cưới và các lễ hội dân gian. Dàn nhạc có 5 bộ, gồm bộ hơi, bộ da, bộ đồng, bộ sắt, bộ mộc, nhưng người Khmer vẫn gọi là dàn nhạc gõ vì đa số các nhạc cụ đều phải gõ để phát âm. Người Khmer còn có dàn nhạc nhẹ (phlêng khsê) gồm các loại đàn cây, chủ yếu là đàn cò (trôrô lea), đàn cò u (trô ủ), đàn bán nguyệt (khưm), cặp phách tre (krab), trống cổ bồng (skôr phiêng)... dùng để hợp tấu, và các loại đàn trô khse bei vàpeiar Khmer dùng độc tấu trong các dịp cúng Arăk, Neak Ta. Tiêu biểu nhất trong loại hình nghệ thuật sân khấu là kịch hát Rôbam và kịch hát Yukê. Kịch hát Rôbam có nguồn gốc từ cung đình, trong đó vũ đạo chiếm một vai trò quan trọng, nên có người gọi là múa rôbam (răm rôbam) hay hát răm. Nội dung là những tuồng tích cổ, nổi tiếng nhất là vở Réakér. So với Rôbam, kịch hát Yukê có nguồn gốc gần gũi với mảnh đất Nam Bộ hơn nên được người Khmer ở Campuchia gọi là Lakhôn Bassac (kịch hát vùng đồng bằng sông Cửu Long), và có tuổi đời trẻ hơn, ra đời và trưởng thành trong thập niên 1920. Tuồng tích của Yukê là các tuồng cổ Khmer được trích từ anh hùng ca Ấn Độ Ramayana; các truyện thần thoại như Lin thông, Mak phu yong kev, Sara minh, các truyện xưa tích cũ của người Việt như Thạch Sanh chém chằn, Tấm Cám..., và cả một số tuồng Trung Quốc như Tam Tạng thỉnh kinh, Trụ Vương mê Đắc Kỷ... Chùa chiền của người Khmer Nam Bộ có kiến trúc rất độc đáo, là nơi thể hiện những thành tựu nổi bật về kiến trúc, điêu khắc, hội họa và hoa văn trang trí của người Khmer. Các ngôi chùa không chỉ là trung tâm tôn giáo mà còn là trung tâm giáo dục, trung tâm văn nghệ, trung tâm hội họp, trung tâm lễ hội của cộng đồng. Toàn vùng có tổng cộng hơn 400 ngôi chùa Khmer, trong đó xưa nhất và nhiều nhất là các chùa Khmer trên địa bàn Trà Vinh và Sóc Trăng. Ở Trà Vinh có tới 140 chùa Khmer, vượt xa số lượng chùa của các tộc người khác hiện có trên địa bàn cộng lại. Trong đó tiêu biểu là chùa Âng (chùa Samrông Ek, có từ năm 1642, có thuyết cho là năm 1373),chùa Hang, chùa Nôdol (chùa Cò), chùa Samrônge (tương truyền được xây dựng năm 642, xây dựng lại năm 1850)... Ở Sóc Trăng, có những chùa nổi tiếng như chùa Kh'leang (xây dựng năm 1533), chùa Dơi (chùa Mã Tộc, chùa Ma-ha-tuc, ra đời khoảng đầu thế kỷ XVII), v.v. Người Khmer Nam Bộ có hệ thống chữ Khmer cổ truyền, ra đời vào thế kỷ thứ VII, bắt nguồn từ chữ Sanskrit, vẫn còn được lưu dụng và phổ biến trong cộng đồng.
Người Hoa ở Nam Bộ có nền văn học, nghệ thuật rất phát triển, gồm đủ các bộ môn: văn học, âm nhạc truyền thống, tân nhạc, ca kịch, hí kịch, múa hầu, múa lân - sư - rồng, tạp kỹ, kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ, thư pháp, tranh kiếng, v.v. Những nơi thờ phụng công cộng của người Hoa nhưcác hội quán, miếu, đình, đền, chùa, nhà thờ, đều có lối kiến trúc và điêu khắc cổ kính, đặc thù.Những nơi thờ phụng công cộng này không chỉ là trung tâm tín ngưỡng mà còn là trung tâm văn hoá, giáo dục của cộng đồng, nơi giữ gìn và phát huy truyền thống văn hoá nghệ thuật của người Hoa. Riêng Sài Gòn - Chợ Lớn đã có trên 20 nơi thờ phụng công cộng như vậy: các hội quán Minh Hương Gia Thạnh (xây dựng năm 1789), Nghĩa Nhuận, Lệ Châu (Minh Hương - Chợ Lớn), Tuệ Thành (Quảng Đông - Chợ Lớn, xây dựng năm 1796), Quảng Triệu (Quảng Đông - Sài Gòn), Hà Chương, Ôn Lăng, Tam Sơn (Phúc Kiến - Chợ Lớn), Nghĩa An (Triều Châu - Chợ Lớn), Quỳnh Phù (Hải Nam - Chợ Lớn), Quần Tân (Hẹ - Gò Vấp); các miếu Thất Phủ (7 bang - Chợ Lớn), Thiên Hậu (Quảng Đông - Sài Gòn); đình Nhị Bang (Phúc Kiến - Chợ Lớn); đền Ngọc Hoàng Đa Kao (tất cả người Hoa); các chùa Phụng Sơn (Hội chợ Sắt), Trúc Lâm (Phật tử gốc Hoa), Bảo Sơn (Phúc Kiến - Chợ Lớn), Báo Ân (tín đồ Công giáo Hoa); các nhà thờ Cha Tam (tín đồ Công giáo Hoa), Phúc Ân, Tịnh Tâm (tín đồ Tin Lành Hoa), v.v. Tiếng Hoa và chữ Hán, phương tiện truyền lưu văn hoá và nối kết các cộng đồng người Hoa, vẫn được giảng dạy ở các trường lớp nơi có người Hoa cư trú tập trung, mà nhiều nhất là ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Nhiều người Hoa cư trú lâu đời ở Việt Nam đã có những cống hiến xuất sắc, góp phần không nhỏ vào việc phát triển trên các lãnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá của Việt Nam: Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên, Trần Đại Định, Mạc Cửu, Mạc Thiên Tứ, Võ Trường Toản, Gia Định tam gia (Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhân Tĩnh), Gia Định tam hùng (Đỗ Thành Nhân, Võ Tánh, Châu Văn Tiếp), Ngô Tùng Châu, Trần Tiễn Thành, Phan Thanh Giản, Lý Liễu, Châu Thượng Văn, Hồ Dzếnh, tứ trụ thời Pháp thuộc (Hứa Bồn Hoa, Quách Đàm, Hộ Xưởng, Trần Ích), v.v. Người Việt Nam Bộ tiếp thu Nho giáo và học thuật của Trung Hoa, một phần cũng là nhờ sự vai trò cầu nối của những trí thức Minh Hương và trí thức người Hoa Nam Bộ.
Người Chăm Nam Bộ có các hoạt động văn nghệ như ca, múa, kịch... Tuy bị câu thúc bởi đạo Hồi nhưng các hoạt động này vẫn được cộng đồng ủng hộ trong những dịp lễ hội. Thành tựu nổi bật nhất về nghệ thuật của người Chăm Nam Bộ là các thánh đường lớn với lối kiến trúc và trang trí rất độc đáo, đặc thù. Người Chăm Nam Bộ có chữ víết riêng là chữ Chăm Melayu do người Chăm Nam Bộ xây dựng dựa trên chữ Ả Rập và chữ Jawi của người Melayu ở Đông Nam Á, dùng để trao đổi trong cộng đồng và tìm hiểu đạo Hồi. Các tộc người Stiêng, Chrau đều có nền văn học dân gianriêng, và có hệ thống chữ viết được xây dựng theo mẫu tự La Tinh nhưng chưa được triển khai, phổ biến.
2.5. Cách thức ăn, mặc, ở, đi lại
Ẩm thực của người Việt Nam Bộ cũng theo truyền thống bảo đảm cân bằng âm dương và theo quy luật ngũ hành tương sinh tương khắc của người Việt nói chung. Tuy nhiên, do điều kiện địa lý đặc thù và giao lưu tiếp biến văn hoá, cơ cấu bữa ăn thông thường của người Việt nơi đây đã được điều chỉnh thành cơm - canh - rau - tôm cá. Để cân bằng với khí hậu nóng nực, người Việt nơi đây rất chuộng ăn canh, và do tiếp biến các món canh chua của người Khmer, nên các món canh chua Nam Bộ cực kỳ phong phú. Do nguồn thuỷ sản dồi dào, thành phần thuỷ sản như cá, tôm, cua, rùa, rắn, nghêu, sò, ốc, hến, lươn... giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu bữa ăn. Cũng do môi trường lắm tôm cá, nên các loại mắm nơi đây phong phú hơn hẳn các vùng miền khác: mắm cá lóc, mắm cá sặc, mắm cá linh, mắm tôm chua, mắm rươi, mắm còng, mắm ba khía, mắm ruốc, mắm nêm... Cách chế biến cũng rất đa dạng và đặc sắc: mắm sống, mắm kho, mắm chưng, lẩu mắm, bún mắm... Từ các nguồn nguyên liệu thuỷ sản này kết hợp với các loại rau trái phong phú, người Nam Bộ đã sử dụng các kỹ thuật nấu nướng khác nhau như nướng, hấp, chưng, luộc, kho, xào, khô, mắm... để chế biến ra các loại món ăn khác nhau với những hương vị độc đáo. Rất nhiều món ăn bình dân nhưng hấp dẫn: canh chua cá kèo, chuột đồng xào sả ớt, cháo cá rau đắng, cá lóc hấp bầu, bún mắm Đồng Tháp, bánh canh Trảng Bảng, v.v. đã có mặt trong thực đơn của các "làng ẩm thực", nhà hàng sang trọng trong vùng.
Bên cạnh đó, mỗi địa phương lại có những đặc sản nổi tiếng của mình. Tây Ninh có bánh canh Trảng Bàng, bánh tráng Trảng Bàng... Long An có dưa hấu Long Trì, dứa Bến Lức, rượu đế nếpGò Đen... Đồng Tháp có bánh phồng tôm Sa Giang, nem Lai Vung, quýt hồng Lai Vung, chuột đồng Cao Lãnh, sen... Trà Vinh có cốm dẹp trộn dừa kiểu Khmer, các món đuông như đuông chà là, đuông đất, đuông dừa, mắm rươi, rượu Xuân Thạnh, bánh tét, bánh tráng ba xe, mắm kho, bún nước lèo, lươn um lá cách, cá cháy Cầu Quan, tôm càng nấu lẩu chua cơm mẻ, chuột đồng khìa nước dừa, vọp chong nướng lụi, bánh xèo, bánh ống, bánh canh Bến Có... Sóc Trăng có bánh pía, lạp xưởng, bún nước lèo, bánh cống Đại Tâm (Mỹ Xuyên), bò nướng ngói Mỹ Xuyên, bún xào Thạnh Trị, bún gỏi già... Hậu Giang có khóm Cầu Đúc (Vị Thanh), bưởi Năm Roi (Châu Thành), cá thát lát mình trắng (Long Mỹ)... Kiên Giang có nước mắm Phú Quốc, rượu sim, bánh tằm bì, tôm khô,phồng mực, bún cá, tiêu, xôi Hà Tiên, bún nước lèo... Cà Mau có mắm lóc U Minh, ba khía Rạch Gốc (Ngọc Hiển), sò huyết Bãi Bồi (Ngọc Hiển), tôm khô Bãi Háp (Năm Căn), v.v.
Người Khmer Nam Bộ cũng có cơ cấu bữa ăn thông thường là cơm - canh - rau - tôm cá, với các món ăn đặc trưng như mắm prahoc, canh sòm lo ko kô, bún sòm lo mun mờ chat... Mắm prahoc(người Việt gọi là mắm bò hóc) được làm bằng nhiều loại cá, cách làm rất công phu và tốn thời gian (khoảng hơn 4 tháng). Bên cạnh đó còn có các loại mắm pro ot (bò ót), ơng pa, pơ ling làm bằng tép mồng, tép bạc, và một loại mắm chua rất ngon có tên là pha ơk (mắm chao). Dùng tôm tép trộn muối và cho vào nhiều thính (gạo rang) xong đem phơi nắng khoảng 7-10 ngày. Khi ăn người ta trộn với đu đủ xanh thái nhỏ, củ gừng, củ riềng, ớt, chuối chát xắt mỏng. Canh sòm lo ko kô (canh sim lo) thì có cách nấu rất công phu, phải dùng thịt, cá tươi nấu với rau ngổ, chuối rém, hoặc trái đu đủ non và nêm bằng mắm prahoc. Đây là món canh phổ thông được dùng ở nhiều nơi. Món bún sòm lo mun mờ chat (bún nước lèo) thì cả người Khmer và người Việt đều có và ưa thích. Ngoài ra, người Khmer còn có món canh vừa chua vừa cay vừa béo gọi là sòm lo mò chu được nấu với cơm mẻ rất đặc sắc, hoặc thêm trái chuối xiêm còn xanh và một ít mắm prahoc gọi là sòm lo mò chu pha le rất ngon.
Người Chăm Nam Bộ theo Hồi giáo có những món ăn riêng phù hợp với đạo Hồi, gọi là các món halal. Họ được ăn thịt, nhưng phải là các loại thịt do chính người Chăm Hồi giáo cắt tiết, đọc kinh. Riêng thịt heo, thịt chó, thịt của những con vật tự nhiên ngã ra chết hoặc bị giết bằng cách xiết cổ, đập đầu, bị ngã, bị húc, bị mãnh thú xé xác, thì không được phép dùng. Trong tháng chay nhịn Ramadan, người Chăm Hồi giáo phải giữ mình trong sạch và phải chịu thử thách bằng cách nhịn mọi thứ vào ban ngày và chỉ được phép ăn, uống, hút thuốc vào ban đêm.
Về trang phục, do sống trong môi trường sông nước, nông dân người Việt ở Nam Bộ, cả nam và nữ, rất thích chiếc áo bà ba và chiếc khăn rằn. Chiếc áo bà ba gọn nhẹ rất tiện dụng khi chèo ghe, bơi xuồng, lội đồng, tát mương, tát đìa, cắm câu giăng lưới, và có túi để có thể đựng một vài vật dụng cần thiết. Chiếc khăn rằn được dùng để che đầu, lau mồ hôi, và có thể dùng quấn ngang người để thay quần.
Trang phục thường nhật của nam giới người Khmer Nam Bộ cũng là bộ bà ba đen, quấn khăn rằn. Trong dịp lễ tết, họ mặc áo bà ba trắng, quần đen (hoặc áo đen, quàng khăn quàng trắng chéo ngang hông vắt lên vai trái). Riêng thanh niên hiện nay khi ở nhà thường không mặc áo và quấn chiếc xà rông kẻ sọc. Trang phục nữ giới thông thường cách đây ba, bốn mươi năm là xăm pốt, một loại váy bằng tơ tằm, hình ống (kín). Chiếc váy điển hình là loại xăm pốt chân khen, một loại váy hở, quấn quanh thân, nhưng khác nhiều tộc người khác cũng có loại váy này là cách mang váy luồn giữa hai chân từ sau ra trước, rồi kéo lên giắt cạnh hông. Họ thường mặc váy trong những ngày lễ lớn, mỗi ngày mặc một màu khác nhau. Đó là loại xăm pốt pha muông. Ngày nay các loại trên ít thấy, có khả chăng chỉ trên sân khấu cổ truyền mà thôi. Thường nhật hiện nay, trang phục của người Khmer giống với người Việt ở địa phương. Trong lễ tết, họ lại mặc loại áo dài giống người Chăm.
Người Chăm Nam Bộ cũng sử dụng những trang phục dân tộc nhưng có tiếp nhận ảnh hưởng trang phục của các tộc người cộng cư. Phụ nữ Chăm khi tiếp xúc với khách hoặc khi ra đường đều đội khăn để che kín tóc, nhưng không phải mang mạng che mặt như phụ nữ Hồi giáo ở Trung Đông.
Nhà ở của người Việt Nam Bộ có ba loại chính: nhà đất cất dọc theo ven lộ, nhà sàn cất dọc theo kinh rạch, và nhà nổi trên sông nước. Nhà nổi trên sông nước là nơi cư trú đồng thời là phương tiện mưu sinh của những gia đình theo nghề nuôi cá bè, vận chuyển đường sông, buôn bán ở các chợ nổi, bán sỉ và bán lẻ trên sông.
Người Khmer trước đây đều ở nhà sàn, nhưng ngày nay phần nhiều đã chuyển thành nhà đất, nhà sàn chỉ còn phổ biến ở những khu vực gần biên giới. Nhà ở của họ ngày nay về hình dáng, vật liệu kiến trúc cũng gần giống với nhà của người Việt và người Hoa. Nếu sống trên đất cao thì người Khmer thường làm nhà đất, còn ở nơi đất thấp họ phải cất nhà sàn, nhỏ nhưng nóc cao, mái rất dốc và thường được lợp bằng lá dừa nước, ở các vùng gần biên giới thì dùng lá dừa chằm để lợp.
Người Chăm Nam Bộ trước đây cũng ở nhà sàn, nhưng ngày nay phần nhiều cũng đã chuyển thành nhà đất. Ở miền Đông, người Stiêng vẫn còn sử dụng nhà sàn dài, phù hợp với chế độ đại gia đình phụ hệ, nhưng người Chrau thì phần nhiều cũng đã chuyển nhà sàn thành nhà đất như người Việt.
Để đi lại, vận chuyển, các tộc người cư trú nơi đây đều phải lựa chọn những phương tiện phù hợp với các địa hình đặc trưng của không gian Nam Bộ. Ở trên đất liền thì các cư dân Nam Bộ dùng xe bò, xe ngựa, xe đạp, xe thồ, xe tải... Ở vùng sông nước thì dùng xuồng, ghe, tắc ráng, vỏ lãi, tàu, bè, bắc (phà), cộ... Ở miền Tây sông nước, xuồng ghe có vai trò đặc biệt quan trọng, vừa là phương tiện vận chuyển tiện dụng cho tất cả mọi người, vừa là phương tiện mưu sinh và phương tiện cư trú của một số lớn cư dân làm nghề đò ngang, đò dọc, buôn bán và nuôi cá trên sông. Hình ảnh dòng sông, con đò vì vậy đã phổ biến đến mức trở thành một hình tượng văn học, một biểu tượng của không gian Nam Bộ. Trong thời Pháp thuộc, khi giao thông đường bộ bước đầu phát triển, người Nam Bộ đã gọi các chuyến xe khách liên tỉnh, liên vùng là xe đò. Nói chung, cho đến nay ở miền Tây giao thông đường thuỷ vẫn rất thông dụng và thuận lợi, mặc dù giao thông đường bộ đã được cải thiện nhiều.
2.6. Giao lưu, tiếp biến văn hoá
Không gian văn hoá Nam Bộ là phần mở rộng của không gian văn hoá Việt Nam trên một vùng đất mới mà ở đó, chung tay khai phá với người Việt còn có các tộc người bản địa và các tộc người di dân. Vì vậy, trên vùng đất này, ngay từ đầu văn hoá của cư dân Việt, mà trong đó đã có sẵn yếu tố Chăm, đã giao lưu mật thiết với văn hoá của các cư dân Khmer, Hoa... Trong thời cận đại và hiện đại, trong suốt một thời gian dài vùng đất này lại chịu ảnh hưởng của văn hoá Pháp rồi tiếp đó là văn hoá Mỹ. Và từ năm 1975, nơi đây cũng trở thành một địa bàn biến động mạnh mẽ về thành phần tộc người không kém Tây Nguyên. Vì vậy, Nam Bộ cũng là một vùng đất mà giao lưu, tiếp biến văn hoá đã và đang diễn ra với tốc độ rất nhanh. Hệ quả là hầu như không có hiện tượng văn hoá nào ở nơi đây còn nguyên chất thuần Việt mà luôn có bóng dáng của những nền văn hoá khác, đã hội tụ nơi đây trong hơn ba thế kỷ qua. Cho nên, có thể nói, giao thoa văn hoá chính là một trong những bản sắc của văn hoá Nam Bộ. Nó khiến cho văn hoá Nam Bộ vừa tương đồng, lại vừa khác biệt với cội nguồn của nó là văn hoá Việt ở đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ.
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là văn hoá Nam Bộ chỉ là con số cộng các luồng văn hoá đã hội tụ nơi đây. Trong quá trình giao thoa văn hoá, cư dân Việt nơi đây đã không tiếp thu trọn gói các nền văn hoá khác mà chỉ những yếu tố đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần để bổ sung vào hành trang văn hoá mang theo. Vì vậy, văn hoá Việt nơi đây không tự đánh mất mình mà chỉ tái tạo các giá trị văn hoá mà vùng đất này thu nạp được theo hướng làm cho nó thích ứng với văn hoá Việt, với nhu cầu của người Việt trên vùng đất mới. Có thể nói, sự tái tạo các giá trị văn hoá đó cũng là một bản sắc của văn hoá nơi đây.
Bên cạnh sự tiếp biến văn hoá, văn hoá Nam Bộ còn mang đặc trưng đồng bằng sông nước. Hai đặc trưng văn hoá chủ đạo này của vùng đất Nam Bộ đã buộc tất cả các nền văn hoá sinh tụ nơi đây đều phải tự cấu trúc lại, lược bỏ những giá trị không còn phù hợp với môi trường mới, phát triển hoặc sáng tạo những giá trị mới giúp con người có thể tồn tại và phát triển trên một vùng đồng bằng sông nước, đan xen những tộc người khác biệt nhau về văn hoá. Vì vậy, uyển chuyển, linh động, phóng khoáng, bao dung, dần dà đã trở thành bản sắc thứ ba của văn hoá Việt ở Nam Bộ và văn hoá Nam Bộ nói chung.
Trên đây là trích dẫn bài nghiên cứu của TS. Lý Tùng Hiếu.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)























