GIA ĐÌNH TÔI YÊU

Bàn Thờ Họ Lê | Họ Đoàn | Họ Lưu

Thứ Sáu, 29 tháng 11, 2013

Tấm lòng phương Nam

Kính thưa các Chư Thiên, các Chư Thần đất Nam Định
Kính thưa tổ tiên của chúng con đang yên nghỉ nơi đây !
60 năm xưa gia đình chúng con ra đi lánh nạn, rồi sinh sống nơi đất phương Nam, nay chúng con có điều kiện trở về nhân ngày kỉ niệm 100 năm hình thành và phát triển giáo xứ Lạc Thành - Bùi Chu, chúng con mới có dịp được nói lên tấm lòng của chúng con, tấm lòng của những người con xa xứ, xa quê hương.
Chúng con thật là có lỗi với tổ tiên đã lâu nay không chăm sóc mộ phần của người.
Vì trở ngại đường xa và phương tiện không cho phép, chúng con không thể chuẩn bị lễ vật phải phép với các Ngài, với nén nhang tỏ lòng dâng lên tổ tiên, ngọn nến mềm yếu trước gió tỏ lòng trông chờ tổ tiên thứ lỗi, con heo quay thể hiện lễ vật của người phương Nam mà chúng con học được nơi họ và chai rược để làm ấm áp lòng tổ tiên.
Con đây là Phạm Hòa Hiệp con ông Phạm Ngọc Hiển và là cháu đích tôn đời thứ IV của cụ ông bà Phạm Viết Viên đại diện cho gia đình ông bà Phạm Viết Tinh dâng lên lên tổ tiên và các vong linh nơi đây tấm lòng chân thành của chúng con.





Thứ Hai, 25 tháng 11, 2013

Hành hương về Giao Thủy - Nam Định - 2013

Gia đình cụ Phạm Viết Tinh sau 60 năm ( 1954 - 2013) mới có điều kiện hành hương trở về cội nguồn. Đoàn đi gồm có 9 người, trưởng đoàn có ông Phạm Ngọc Hà cùng các chị, em và các cháu cùng về thăm quê cha đất Tổ sau 60 năm di cư vào Nam lánh nạn và sinh sống.
Đoàn khởi hành bắt đầu lúc 7g45' - 23 - 11 - 2013, dự kiến kết thúc ngày 04 - 12 - 2013.
Hành trình Đoàn khởi hành từ sân bay Tân Sơn Nhất  đến sân bay Cát Bi - Hải Phòng. Đoàn đến sân bay Cát Bi - Hải phòng lúc 10g30' sáng cùng ngày 23- 11 - 2013.
Bến  đò sông Hồng

Bến đò sông Hồng.

Vương cung Thánh đường Chánh Tòa Địa phận Bùi Chu.
xem tiếp >>>

Đến thăm và thắp nén nhang cho khu mộ vô danh, trong những ngôi mộ vô danh này có ông bà, thân thuộc trong dòng họ của chúng ta.
Theo nhà ngoại cảm Nguyễn Bá Quang Dũng cho hay:
* Ngôi mộ Cụ bà Nguyễn Thị Viên ( 4 - D) - mất ngày 21 - 12 - âm lịch.

* Mộ Cụ  ông Phạm Viết Viên( 3 - G) mất ngày 09- 08 âm lịch.

" Càng tìm sâu về quá khứ,
Càng thấu hiểu tương lai."
Sơ lược dòng họ Phạm:
Cụ ông Phạm Viết Huy: khoảng năm 1840 - 1858 thời kỳ cấm Đạo Thiên Chúa.
=> ông Phanxico - Phạm Văn khôi - bà Maria - Phan Thị Khôi
=> ông Vicente - Phạm Viết Viên - bà Maria - Nguyễn Thị Viên
=> ông Phanxico - Phạm Viết Tinh - bà Maria - Vũ Thị Tý
=> ông Phanxico - Phạm Ngọc Hiển - bà Teresa Đoàn Thị Huyền
=> ông Simon Hòa - Phạm Hòa Hiệp - bà Teresa Lê Lưu Hoài Thu
=> ông Phanxico - Phạm Lê Gia Anh
Người cháu Đích tôn ông Phạm Hòa Hiệp đời thứ IV của ông Phạm Viết Viên và bà Nguyễn Thị Viên đại diện gia đình thắp nén nhang bái chào dâng lên ông bà của mình để tỏ lòng nhận lỗi, lâu nay con, cháu, chắt,... đã bỏ bê không chăm sóc Mộ phần Gia Tiên của mình.
Khi còn sinh thời, ông Phạm Ngọc Hiển là cháu Đích tôn đời thứ III của ông bà cố Phạm Viết Viên ngày đêm khát khao trở về để vun đắp cho ông nội của mình xẻng đất cũng như thắp nén nhang nhưng sự khát khao đó cũng chỉ là ước mơ, cho đến khi ông ra đi năm thứ IX các người em của ông mới giúp ông thỏa ước nguyện với tổ tiên.

Nơi mộ phần của cụ tổ ông Phanxico - PHẠM VĂN KHÔI  và bà Maria - PHAN THỊ KHÔI.
Đại gia đình họ Phạm chân thành cảm ơn đến gia đình cụ Phanxico - Maria - Nguyễn Ngọc Niễn là sui gia của cụ ông và cụ bà Phạm Văn Khôi đã cho tổ tiên chúng con nơi nương tựa và được lập mô khang trang như các thành viên khác trong dòng họ. Công đức này gia đình chúng con xin ghi tạc mãi mãi trong lòng.
Ghi chú:
Cụ bà Maria Phạm Thị Thiều là con gái của cụ ông Phạm Văn Khôi và cụ bà Maria Phan Thị Khôi, và cũng là người em của cụ Phạm Viết Viên, trong điều kiện cải cách ruộng đất năm 1955 - 1956 cụ bà Thiều chỉ mang theo bố - mẹ về nhà chồng, không mang theo anh trai và chị dâu của mình được nên mộ cụ cố Phạm Viết Viên bị thất lạc.


Cố tổ VŨ VIẾT SỸ 1775 là vị tổ lâu đời nhất còn lại gia phả của dòng họ của chúng ta.
Sơ lược dòng họ Vũ:
Cụ ông Vũ Viết Sỹ 1775 => 16 - 02 - 1838( âm lịch)
 => ông Vũ Viết Đạo 1822 =>  12 - 02 - 1890 ( âm lịch)
 => ông Vũ Viết Thiệu 
=> Vũ Thị Tý=>
=> Ông Phạm Ngọc Hiển
=> Ông Phạm Hòa Hiệp
=> Ông Phạm Lê Gia Anh.
Lâu nay trong miền Nam chúng con chỉ nghe đến giỗ ông-bà cụ Vũ Viết Đạo. Hôm nay chúng con trở về quê hương được thăm lăng mộ của cụ tổ Vũ Viết Sỹ người thân sinh của cụ Vũ Viết Đạo.
Thăm nhà ông cố Vũ Viết Thiệu.

Gia đình ông Phạm Viết Tinh được sự chấp thuận của chính quyền địa phương, cha chánh xứ Lạc Thành cho khởi công xây mới thêm 72 phần mộ vô danh nữa.
Nhờ tấm lòng rộng mở của quí địa phương là cơ hội giúp gia đình chúng ta giữ mãi được quê hương xưa của mình.
Sáng 24 - 11 - 2013 Gia đình cụ Phạm Viết Tinh cùng cộng đồng giáo xứ Lạc Thành và các thành viên dòng họ dâng thánh lễ tạ ơn và cầu xin cho các linh hồn mồ côi.
Tham dự rước kiệu - Kito vua giáo xứ Thuận Thành

Nghe các cụ lớn tuổi giảng giải nguồn gốc của dòng họ. Cụ Vụ Bản là người cao niên nhất trong dòng họ hiện còn sống, cụ giúp chúng ta hiểu hơn về cuộc đời của Cụ Phạm Viết Viên.
Ông phạm Ngọc Hà đang tra tìm nguồn ngốc họ cụ bà Nguyễn Thị Viên.
Ghi chú: 
Dòng họ Nguyễn lưu gia phả được XI đời, nhưng không lưu con gái con gái trong gia phả.
Người cháu đại diện gia đình cụ ông Phạm Viết Tinh thắp nén nhang mời tổ tiên cùng sum vầy bên con cái, cháu chắt.

Bữa cơm thân mật gia đình, cùng nhau sum vầy.





Đến thăm gia đình trưởng tộc của dòng họ Vũ.




Thứ Năm, 21 tháng 11, 2013

NGŨ ĐẠI ĐỒNG ĐƯỜNG


Banner Phạm Ngọc Hiển


Nguyên tắc Vái - Lạy

I. Nghi-Thức Cúng Gia-Tiên
 Khi cúng thì chủ gia đình phải bầy đồ lễ cùng với hoa quả theo nguyên-tắc “đông bình tây quả,” rượu, và nước. Sau đó, phải đốt đèn (đèn dầu, đèn cầy, hay đèn điện), thắp nhang, đánh chuông, khấn, và cúng trước rồi những người trong gia đình theo thứ tự trên dưới cúng sau. Nhang (hương) đèn để mời và chuông để thỉnh tổ tiên. Khi cúng thì phải chắp tay đưa lên ngang trán khấn. Khấn là lời trình với tổ tiên về ngày cúng liên quan đến tên người quá cố, ngày tháng năm ta và tây, tên địa phương mình ở, tên mình và tên những người trong gia đình, lý do cúng và lời cầu nguyên, v.v.. Riêng tên người quá cố ta phải khấn rõ nhỏ. Sau khi khấn rồi, tuỳ theo địa vị của người cúng và người quá cố mà vái hay lạy. Nếu bố cúng con thì chỉ vái bốn vái mà thôi. Nếu con cháu cúng tổ tiên thì phải lạy bốn lạy. Chúng ta cần hiểu cho rõ về ý nghĩa của Cúng, Khấn, Vái, và Lạy.
 II. Định-Nghĩa của Cúng, Khấn, Vái, và Lạy
 a. Cúng
 Khi có giỗ Tết, gia-chủ bày hoa (bông) quả, nước, rượu, cỗ-bàn, chén bát, đũa, muỗng (thìa) lên bàn thờ rồi thắp nhang (hương), thắp đèn, đốt nến (đèn cầy), khấn, vái, hay lạy để tỏ lòng hiếu-kính, biết ơn, và cầu phước-lành. Đây là nghĩa rộng của cúng. Trong nghĩa bình-thường, cúng là thắp nhang (hương), khấn, lạy,và vái.
 b. Khấn (*)
 Khấn là lời cầu-khẩn lầm-rầm trong miệng khi cúng, tức là lời nói nhỏ liên-quan đến các chi-tiết về ngày tháng năm, nơi-chốn, mục-đích buổi cúng lễ, cúng ai, tên những người trong gia đình, lời cầu xin, và lời hứa.
 Sau khi khấn, người ta thường vái vì vái được coi là lời chào kính-cẩn. Người ta thường nói khấn vái là vậy. Trong truyện Kiều, Nguyễn Du dùng từ khấn vái trong câu “Lầm rầm khấn vái nhỏ to,/ Sụp ngồi đặt cỏ trước mồ bước ra.” (câu 95-96)
 c. Vái
 Vái thường được áp-dụng ở thế đứng, nhất là trong dịp lễ ở ngoài trời. Vái thay thế cho lạy ở trong trường hợp này. Vái là chắp hai bàn tay lại để trước ngực rồi đưa lên ngang đầu, hơi cúi đầu và khom lưng xuống rồi sau đó ngẩng lên, đưa hai bàn tay xuống lên theo nhịp lúc cúi xuống khi ngẩng lên. Tùy theo từng trường-hợp, người ta vái 2,3,4, hay 5 vái (xem phần sau).
 d. Lạy
 
 Lạy là hành-động bày tỏ lòng tôn-kính chân-thành với tất-cả tâm-hồn và thể-xác đối với người trên hay người quá-cố vào bậc trên của mình. Có hai thế lạy: thế lạy của đàn ông và thế lạy của đàn bà. Có bốn trường hợp lạy: 2 lạy, 3 lạy, 4 lạy, và 5 lạy. Mỗi trường hợp đều có mang ý-nghĩa khác nhau.
 - Thế Lạy Của Đàn Ông
 
 
Thế lạy của đàn ông là cách đứng thẳng theo thế nghiêm, chắp hai tay trước ngực và dơ cao lên ngang trán, cúi mình xuống, đưa hai bàn tay đang chắp xuống gần tới mặt chiếu hay mặt đất thì xòe hai bàn tay ra đặt nằm úp xuống, đồng thời quì gối bên trái rồi gối bên phải xuống đất, và cúi rạp đầu xuống gần hai bàn tay theo thế phủ- phục. Sau đó cất người lên bằng cách đưa hai bàn tay chắp lại để lên đầu gối trái lúc bấy giờ đã co lên và đưa về phía trước ngang với đầu gối chân phải đang quì để lấy đà đứng dậy, chân phải đang quì cũng theo đà đứng lên để cùng với chân trái đứng ở thế nghiêm như lúc đầu. Cứ theo thế đó mà lạy tiếp cho đủ số lạy (xem phần Ý-Nghĩa của Lạy dưới đây). Khi lạy xong thì vái ba vái rồi lui ra.
 Có thể quì bằng chân phải hay chân trái trước cũng được, tùy theo thuận chân nào thì quì chân ấy trước. Có điều cần nhớ là khi quì chân nào xuống trước thì khi chuẩn-bị cho thế đứng dậy phải đưa chân đó về phía trước nửa bước và tì hai bàn tay đã chắp lại lên đầu gối chân đó để lấy thế đứng lên. Thế lạy theo kiểu này rất khoa-học và vững-vàng. Sở-dĩ phải quì chân trái xuống trước vì thường chân phải vững hơn nên dùng để giữ thế thăng-bằng cho khỏi ngã. Khi chuẩn-bị đứng lên cũng vậy. Sở-dĩ chân trái co lên đưa về phía trước được vững-vàng là nhờ chân phải có thế vững hơn để làm chuẩn.
 Thế lạy phủ-phục của mấy nhà sư rất khó. Các Thầy phất tay áo cà sa, đưa hai tay chống xuống ngay mặt đất và đồng-thời quì hai đầu gối xuống luôn. Khi đứng dậy các Thầy đẩy hai bàn tay lấy thế đứng hẳn lên mà không cần phải để tay tỳ lên đầu gối. Sở dĩ được như thế là nhờ các Thầy đã tập-luyện hằng-ngày mỗi khi cúng Phật. Nếu thỉnh-thoảng quí cụ mới đi lễ chùa, phải cẩn-thận vì không lạy quen mà lại bắt chước thế lạy của mấy Thầy thì rất có thể mất thăng-bằng.
 - Thế Lạy Của Đàn Bà 
 Thế lạy của các bà là cách ngồi trệt xuống đất để hai cẳng chân vắt chéo về phía trái, bàn chân phải ngửa lên để ở phía dưới đùi chân trái. Nếu mặc áo dài thì kéo tà áo trước trải ngay ngắn về phía trước và kéo vạt áo sau về phía sau để che mông cho đẹp mắt. Sau đó, chắp hai bàn tay lại để ở trước ngực rồi đưa cao lên ngang với tầm trán, giữ tay ở thế chắp đó mà cúi đầu xuống. Khi đầu gần chạm mặt đất thì đưa hai bàn tay đang chắp đặt nằm úp xuống đất và để đầu lên hai bàn tay. Giữ ở thế đó độ một hai giây, rồi dùng hai bàn tay đẩy để lấy thế ngồi thẳng lên đồng-thời chắp hai bàn tay lại đưa lên ngang trán như lần đầu. Cứ theo thế đó mà lạy tiếp cho đủ số lạy cần thiết (xem phần Ý Nghĩa của Lạy dưới đây). Lạy xong thì đứng lên và vái ba vái rồi lui ra là hoàn tất thế lạy.
 Cũng có một số bà lại áp dụng thế lạy theo cách quì hai đầu gối xuống chiếu, để mông lên hai gót chân, hai tay chắp lại đưa cao lên đầu rồi giữ hai tay ở thế chắp đó mà cúi mình xuống, khi đầu gần chạm mặt chiếu thì xòe hai bàn tay ra úp xuống chiếu rồi để đầu lên hai bàn tay. Cứ tiếp tục lạy theo cách đã trình bày trên. Thế lạy này có thể làm đau ngón chân và đầu gối mà còn không mấy đẹp mắt.
 Thế lạy của đàn ông có vẻ hùng-dũng, tượng trưng cho dương. Thế lạy của các bà có tính cách uyển-chuyển tha-thướt, tượng-trưng cho âm. Thế lạy của đàn ông có điều bất-tiện là khi mặc âu-phục thì rất khó lạy. Hiện nay chỉ có mấy vị cao-niên còn áp-dụng thế lạy của đàn ông, nhất là trong dịp lễ Quốc-Tổ. Còn phần đông, người ta có thói quen chỉ đứng vái mà thôi.
 Thế lạy của đàn ông và đàn bà là truyền-thống rất có ý-nghĩa của người Việt ta. Nó vừa thành-khẩn vừa trang-nghiêm trong lúc cúng tổ-tiên. Nếu muốn giữ phong-tục tốt đẹp này, các bạn nam nữ thanh-niên phải có lòng tự-nguyện. Muốn áp-dụng thế lạy, nhất là thế lạy của đàn ông, ta phải tập-dượt lâu mới nhuần-nhuyễn được. Nếu đã muốn thì mọi việc sẽ thành.

 III . Ý-Nghĩa của Lạy và Vái
 
 Số lần lạy và vái đều mang một ý-nghĩa rất đặc-biệt. Sau đây chúng tôi xin trình-bày về ý-nghĩa của vái và lạy. Đây là phong-tục đặc-biệt của Việt Nam ta mà người Tàu không có tục-lệ này. Khi cúng, người Tàu chỉ lạy 3 lạy hay vái 3 vái mà thôi.
 a. Ý-Nghĩa Của 2 Lạy và 2 Vái
 Hai lạy dùng để áp-dụng cho người sống như trong trường-hợp cô dâu chú rể lạy cha mẹ. Khi đi phúng-điếu, nếu là vai dưới của người quá-cố như em, con cháu, và những người vào hàng con em, v.v., ta nên lạy 2 lạy.
 Nếu vái sau khi đã lạy, người ta thường vái ba vái. Ý-nghĩa của ba vái này, như đã nói ở trên là lời chào kính-cẩn, chứ không có ý-nghĩa nào khác. Nhưng trong trường- hợp người quá-cố còn để trong quan-tài tại nhà quàn, các người đến phúng- điếu, nếu là vai trên của người quá-cố như các bậc cao-niên, hay những người vào hàng cha, anh, chị, chú, bác, cô, dì, v. v., của người quá-cố, thì chỉ đứng để vái hai vái mà thôi. Khi quan-tài đã được hạ-huyệt, tức là sau khi chôn rồi, người ta vái người quá cố 4 vái.
 Theo nguyên lý âm-dương, khi chưa chôn, người quá-cố được coi như còn sống nên ta lạy 2 lạy. Hai lạy này tượng-trưng cho âm dương nhị khí hòa-hợp trên dương-thế, tức là sự sống. Sau khi người quá cố được chôn rồi, phải lạy 4 lạy.
 b. Ý-Nghĩa Của 3 Lạy và 3 Vái
 Khi đi lễ Phật, ta lạy 3 lạy. Ba lạy tượng-trưng cho Phật, Pháp, và Tăng (xin xem bài về “Nghĩa Đích Thực của Quy Y Tam Bảo” đã được phổ biến trước đây và sẽ được nhuận sắc và phổ biến). Phật ở đây là giác, tức là giác-ngộ, sáng-suốt, và thông hiểu mọi lẽ. Pháp là chánh, tức là điều chánh-đáng, trái với tà ngụy. Tăng là tịnh, tức là trong-sạch, thanh-tịnh, không bợn-nhơ. Đây là nói về nguyên-tắc phải theo. Tuy-nhiên, còn tùy mỗi chùa, mỗi nơi, và thói quen, người ta lễ Phật có khi 4 hay 5 lạy.
 Trong trường-hợp cúng Phật, khi ta mặc đồ Âu-phục, nếu cảm thấy khó-khăn trong khi lạy, ta đứng nghiêm và vái ba vái trước bàn thờ Phật.
 c. Ý-Nghĩa Của 4 Lạy và 4 Vái
 Bốn lạy để cúng người quá-cố như ông bà, cha mẹ, và thánh-thần. Bốn lạy tượng-trưng cho tứ-thân phụ-mẫu, bốn phương (đông: thuộc dương, tây: thuộc âm, nam: thuộc dương, và bắc: thuộc âm), và tứ-tượng (Thái Dương,Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm). Nói chung, bốn lạy bao-gồm cả cõi âm lẫn cõi dương mà hồn ở trên trời và phách hay vía ở dưới đất nương vào đó để làm chỗ trú-ngụ.
 Bốn vái dùng để cúng người quá-cố như ông bà, cha mẹ, và thánh thần, khi không thể áp-dụng thế lạy.
 d.Ý-Nghĩa Của 5 Lạy và 5 Vái
 Ngày xưa người ta lạy vua 5 lạy. Năm lạy tượng-trưng cho ngũ-hành (kim, mộc, thuỷ, hỏa, và thổ), vua tượng-trưng cho trung-cung tức là hành-thổ màu vàng đứng ở giữa. Còn có ý-kiến cho rằng 5 lạy tượng-trưng cho bốn phương (đông, tây, nam, bắc) và trung-ương, nơi nhà vua ngự. Ngày nay, trong lễ giỗ Tổ Hùng-Vương, quí-vị trong ban tế lễ thường lạy 5 lạy vì Tổ Hùng-Vương là vị vua khai-sáng giống nòi Việt.
 
 Năm vái dùng để cúng Tổ khi không thể áp-dụng thế lạy vì quá đông người và không có đủ thì-giờ để mỗi người lạy 5 lạy.

 IV Kết Luận
 Phong tục có được là do thói quen mà mọi người đã chấp nhận, nhiều khi không giải thích được lý do tại sao lại như thế mà chỉ biết làm theo cho đúng thôi. Trong mỗi gia đình Việt Nam, dù theo đạo nào cũng vậy, chúng ta, con dân nước Việt, hãy cố gắng thiết lập một bàn thờ gia tiên. Có như thế, con cháu ta mới có cơ hội học hỏi cách thiết lập bàn thờ gia tiên, và hiểu được ý nghĩa của việc thờ cúng ra sao.
 Thờ cúng là cách biểu thị lòng nhớ ơn tổ tiên cũng như lòng thương và hiếu thảo đối với ông bà cha mẹ. Đây là một truyền thống văn hóa tốt đẹp của người Việt mà chúng ta cần phải duy trì.
 Khải-Chính Phạm Kim-Thư


Thứ Hai, 18 tháng 11, 2013

Chuyện đầu thai của kiếp người

Nhiều trường hợp đầu thai kỳ lạ trong cộng đồng dân tộc thiểu số ở tỉnh Hòa Bình đã được báo chí Việt Nam phản ánh những năm gần đây.
Cậu bé tự nhận mình từng chết đuối
Cuối năm 2010, nhiều tờ báo ở Việt Nam đăng tải câu chuyện “đầu thai” của một bé trai ở thị trấn Vụ Bản, Lạc Sơn, Hòa Bình.
Theo thông tin được đăng tải trên báo chí, anh Tân và chị Thuận đều là cán bộ công tác tại thị trấn. Hai người kết hôn năm 1987, đến năm 1992 có cháu trai đặt tên là Nguyễn Phú Quyết Tiến. Khi 5 tuổi, Tiến chẳng may chết đuối.
Bỗng nhiên, vào một ngày đầu năm 2006, có một cháu bé tên Bùi Lạc Bình xuất hiện tại gia đình anh chị và khẳng định mình chính là cháu Tiến.
Cháu Bình sinh ngày 06/10/2002, là con anh Hoan, chị Dự, người dân tộc Mường sống trong bản Cọi, Lạc Sơn, Hòa Bình. Ngay từ khi biết nói Bình đã khăng khăng bảo mình là con người Kinh, là con bố Tân, mẹ Thuận, nhà trên thị trấn Vụ Bản.
Có một lần chị Dự có đánh Bình, cháu bảo: “Con đã chết một lần rồi, mẹ đừng đánh con lại chết lần nữa đấy”. Sau mỗi lần bị mắng, cháu lại đòi được về nhà. Một lần chị Dự chở cháu đi, và điều kì lạ là Bình chỉ chính xác đến địa chỉ của nhà anh Tân.
Sau đó, anh Tân đã cùng với chị Thuận cũng tìm đến nhà vợ chồng anh Hoan, chị Dự. Anh xin phép bố mẹ đẻ của Bình, đưa cháu về nhà mình chơi. Vừa mở cửa nhà, Bình lập tức xuống xe và chạy tót vào trong và mở tủ bới đồ đạc. Anh Tân hỏi: “Cháu đang tìm gì?” - “Tìm cái máy bay và cần cẩu”. Anh Tân giật mình vì đây là hai món đồ chơi anh đã mua cho cháu Tiến trước đây.
Điều ngạc nhiên hơn, trước đó, chính bà Thỉn, bà nội cháu Bình cũng từng cho biết: “Từ ngày thằng Bình bắt đầu bi bô tập nói tôi đã biết nó không phải người Mường mà là người Kinh. Nó nói tiếng Kinh rành rọt, điều mà chưa một đứa bé người Mường nào giống thế”.
Sau một lần Bình bị ốm nặng, sốt cao, cháu cứ luôn miệng “dọa”: “Mẹ không cho con về, con lại chết lần nữa!”. Hoảng quá, lần này chị đánh liều gọi cho anh Tân đưa cháu về nhà chơi. Cháu Bình về nhà anh thì khỏe khoắn, vui vẻ, không còn đau ốm nữa.
Từ cuối năm 2006, bố mẹ đẻ của Bình đã cho cháu về ở hẳn với nhà anh Tân, chị Thuận.
Bé trai đầu thai làm con gái nhà hàng xóm
Một hiện tượng “đầu thai” khác cũng được ghi nhận ở bản Cọi, đó là chuyện của cô bé Bùi Thị Hồng Thắm, sinh năm 1991.
Theo chị Bùi Thị Toàn, mẹ của Thắm, từ bé cháu đã có những biểu hiện rất lạ lùng. Khi Thắm bi bô biết nói, một lần hai mẹ con đang chơi đùa bỗng cháu xị mặt rồi nằng nặc đòi: “Mẹ đưa con về nhà” dù lúc đó cháu đang ở trong nhà mình.
Một hôm, đang chơi đùa, Thắm chỉ vào bà Nguyễn Thị Nghe, người ở đầu làng rồi nói với bà nội: “Mẹ cháu kia kìa”. Một lần khác, khi được bố mẹ cho ra đồng, Thắm lại chỉ tay vào nhà bà Nghe rồi bảo “Nhà con đây này”. Chị Toàn bảo con “Con thích thì mẹ đưa vào nhà con”, thế nhưng khi vừa bước vào cổng Thắm đột nhiên nói: “Con không vào nữa đâu, chị Hằng đang ở trong đó, con ghét chị ấy vì chị đã xui con trèo cây làm con ngã chết”.
Từ đó, mọi người phát hiện ra chuyện con nhà bà Nghe đầu thai vào bé Thắm.
Cậu bé Ly là con trai bà Nghe. Năm được 7 tuổi, một hôm Ly được chị gái tên Hằng dẫn đi hái ổi ở bên triền núi. Trong lúc trèo ra hái ổi, Ly bị ngã rơi xuống đất, chấn thương sọ não và mất ngay sau đó…
Kiếp trước của con nhiều tuổi hơn cả bố mẹ
Nếu các vụ đầu thai ở bản Cọi chỉ xuất hiện lác đác trong thời gian gần đây thì hiện tượng này đã xảy ra “như cơm bữa” trong hàng chục năm qua tại các bản làng thuộc xã Chiềng Châu, huyện Mai Châu, Hòa Bình.
Theo báo Pháp luật và Thời đại, tại bản Chiềng Châu có nhiều đứa trẻ sinh ra hoàn toàn bình thường, đến khi 3 – 4 tuổi lại nhận mình là …. con của những gia đình khác xa đến cả chục cây số, dù trước đó hai bên gia đình không có bất cứ mối quan hệ nào.
Trường hợp ‘‘đầu thai’’ hi hữu nhất mà mọi người thường nhắc đến là trường hợp xảy ra tại gia đình anh Khà Văn Ôn, người dân tộc Thái ở bản Nà Sài. Con gái của anh Ôn tên Khà Thì Dịu Hiền, sinh năm 2007 tự nhận mình là đầu thai của một người phụ nữ sinh năm 1966 bị mất sớm do bạo bệnh. Nếu tính tuổi của tiền kiếp thì bé Dịu Hiền còn… già hơn cả bố mẹ.
Khi Dịu Hiền mất vì bạo bệnh, gia đình mời ông thầy mo trong bản đến làm lễ cúng ma cho con theo phong tục địa phương. ‘‘Ông thầy mo ban đầu gọi ‘‘hồn’’ là cháu thì kiểu gì cũng cúng không thành, phải đến khi gọi cháu là…chị thì mới ngồi làm lễ được. Thầy mo bấm tuổi rồi khẳng định “hồn” đã hơn 40 tuổi rồi khiến mọi người sợ hãi...
Trước hàng loạt câu chuyện về “đầu thai” được ghi nhận, TS. Vũ Thế Khanh, Tổng giám đốc Liên hiệp khoa học công nghệ - Tin học ứng dụng (UIA) khẳng định: ‘‘Nhiều năm tham gia những chương trinh nghiên cứu, giao lưu và các khả năng đặc biệt, chúng tôi đã ghi nhận một số câu chuyện tương tự như trường hợp tại xã Chiềng Châu. Đây là những trường hợp dân gian gọi là đầu thai hoặc tái sinh. Cũng không thể coi ‘‘đầu thai’’ là hiện tượng mê tín dị đoan mà chỉ nên coi nó là hiện tượng khó lí giải mà khoa học chưa thể với tới được. Trên thực tế, những câu chuyện về ‘‘tái sinh’’ vẫn tồn tại bất chấp việc chúng ta có tin hay không’’


Thứ Sáu, 1 tháng 11, 2013

Hành Trình vào Nam

Đang bước qua năm thứ 60, 1954 gia đình cụ ông Phạm Viết Tinh ra đi trong bối cảnh loạn lạc chỉ có 9 người:
Phạm Viết Tinh
Vũ Thị Tý
Phạm Thị Vỉ
Phạm Ngọc Hiển
Phạm Thanh Hải
Phạm Thị Hon
Phạm Thị Hin
Phạm Quang Hồ
Phạm Thị Dâu.
Gia đình đi bộ ra cảng Hải Phòng đến đị cư ban đầu tại Mỏ Cày - Bến Tre nơi đóng quân của cụ ông Phạm Viết Tinh.
Sống tại Mỏ Cày - Bến Tre ( 1954 - 1959) ông Phạm Viết Tinh giải ngũ, gia đình tiếp tục di cư về Võ Dõng - Gia Kiện phá rẫy dựng nghiệp ở đó cho đến nay( 2013).
Hiện nay con cháu sống tản mạn khắp nơi, chủ yếu ở Miền đông Nam Bộ như Đồng Nai, Tp.HCM. Một số định cư ở Mỹ như ông Phạm Xuân Hán, con ông Phạm Ngọc Hiển: Phạm Thị Linh Phương( Arizona), Phạm Việt Hoàng, Phạm Thanh Hiếu( New York).

Ngày nay Phạm Gia Tinh đã có:
*20 người con
* 50 người cháu
* 56 người  chắt
* 2 người chút.
Tổng cộng: