Chủ Nhật, 8 tháng 12, 2013
Thứ Sáu, 29 tháng 11, 2013
Tấm lòng phương Nam
Kính thưa các Chư Thiên, các Chư Thần đất Nam Định
Kính thưa tổ tiên của chúng con đang yên nghỉ nơi đây !
60 năm xưa gia đình chúng con ra đi lánh nạn, rồi sinh sống nơi đất phương Nam, nay chúng con có điều kiện trở về nhân ngày kỉ niệm 100 năm hình thành và phát triển giáo xứ Lạc Thành - Bùi Chu, chúng con mới có dịp được nói lên tấm lòng của chúng con, tấm lòng của những người con xa xứ, xa quê hương.
Chúng con thật là có lỗi với tổ tiên đã lâu nay không chăm sóc mộ phần của người.
Vì trở ngại đường xa và phương tiện không cho phép, chúng con không thể chuẩn bị lễ vật phải phép với các Ngài, với nén nhang tỏ lòng dâng lên tổ tiên, ngọn nến mềm yếu trước gió tỏ lòng trông chờ tổ tiên thứ lỗi, con heo quay thể hiện lễ vật của người phương Nam mà chúng con học được nơi họ và chai rược để làm ấm áp lòng tổ tiên.
Con đây là Phạm Hòa Hiệp con ông Phạm Ngọc Hiển và là cháu đích tôn đời thứ IV của cụ ông bà Phạm Viết Viên đại diện cho gia đình ông bà Phạm Viết Tinh dâng lên lên tổ tiên và các vong linh nơi đây tấm lòng chân thành của chúng con.
Kính thưa tổ tiên của chúng con đang yên nghỉ nơi đây !
60 năm xưa gia đình chúng con ra đi lánh nạn, rồi sinh sống nơi đất phương Nam, nay chúng con có điều kiện trở về nhân ngày kỉ niệm 100 năm hình thành và phát triển giáo xứ Lạc Thành - Bùi Chu, chúng con mới có dịp được nói lên tấm lòng của chúng con, tấm lòng của những người con xa xứ, xa quê hương.
Chúng con thật là có lỗi với tổ tiên đã lâu nay không chăm sóc mộ phần của người.
Vì trở ngại đường xa và phương tiện không cho phép, chúng con không thể chuẩn bị lễ vật phải phép với các Ngài, với nén nhang tỏ lòng dâng lên tổ tiên, ngọn nến mềm yếu trước gió tỏ lòng trông chờ tổ tiên thứ lỗi, con heo quay thể hiện lễ vật của người phương Nam mà chúng con học được nơi họ và chai rược để làm ấm áp lòng tổ tiên.
Con đây là Phạm Hòa Hiệp con ông Phạm Ngọc Hiển và là cháu đích tôn đời thứ IV của cụ ông bà Phạm Viết Viên đại diện cho gia đình ông bà Phạm Viết Tinh dâng lên lên tổ tiên và các vong linh nơi đây tấm lòng chân thành của chúng con.
Thứ Hai, 25 tháng 11, 2013
Hành hương về Giao Thủy - Nam Định - 2013
Gia đình cụ Phạm Viết Tinh sau 60 năm ( 1954 - 2013) mới có điều kiện hành hương trở về cội nguồn. Đoàn đi gồm có 9 người, trưởng đoàn có ông Phạm Ngọc Hà cùng các chị, em và các cháu cùng về thăm quê cha đất Tổ sau 60 năm di cư vào Nam lánh nạn và sinh sống.
Đoàn khởi hành bắt đầu lúc 7g45' - 23 - 11 - 2013, dự kiến kết thúc ngày 04 - 12 - 2013.
Bến đò sông Hồng.
Vương cung Thánh đường Chánh Tòa Địa phận Bùi Chu.
xem tiếp >>>
Đoàn khởi hành bắt đầu lúc 7g45' - 23 - 11 - 2013, dự kiến kết thúc ngày 04 - 12 - 2013.
Hành trình Đoàn khởi hành từ sân bay Tân Sơn Nhất đến sân bay Cát Bi - Hải Phòng. Đoàn đến sân bay Cát Bi - Hải phòng lúc 10g30' sáng cùng ngày 23- 11 - 2013.
Bến đò sông Hồng
Vương cung Thánh đường Chánh Tòa Địa phận Bùi Chu.
xem tiếp >>>
Đến thăm và thắp nén nhang cho khu mộ vô danh, trong những ngôi mộ vô danh này có ông bà, thân thuộc trong dòng họ của chúng ta.
Theo nhà ngoại cảm Nguyễn Bá Quang Dũng cho hay:
* Ngôi mộ Cụ bà Nguyễn Thị Viên ( 4 - D) - mất ngày 21 - 12 - âm lịch.
* Mộ Cụ ông Phạm Viết Viên( 3 - G) mất ngày 09- 08 âm lịch.
" Càng tìm sâu về quá khứ,
Càng thấu hiểu tương lai."
Sơ lược dòng họ Phạm:
Cụ ông Phạm Viết Huy: khoảng năm 1840 - 1858 thời kỳ cấm Đạo Thiên Chúa.
=> ông Phanxico - Phạm Văn khôi - bà Maria - Phan Thị Khôi
=> ông Vicente - Phạm Viết Viên - bà Maria - Nguyễn Thị Viên
=> ông Phanxico - Phạm Viết Tinh - bà Maria - Vũ Thị Tý
=> ông Phanxico - Phạm Ngọc Hiển - bà Teresa Đoàn Thị Huyền
=> ông Simon Hòa - Phạm Hòa Hiệp - bà Teresa Lê Lưu Hoài Thu
=> ông Phanxico - Phạm Lê Gia Anh
Người cháu Đích tôn ông Phạm Hòa Hiệp đời thứ IV của ông Phạm Viết Viên và bà Nguyễn Thị Viên đại diện gia đình thắp nén nhang bái chào dâng lên ông bà của mình để tỏ lòng nhận lỗi, lâu nay con, cháu, chắt,... đã bỏ bê không chăm sóc Mộ phần Gia Tiên của mình.
Khi còn sinh thời, ông Phạm Ngọc Hiển là cháu Đích tôn đời thứ III của ông bà cố Phạm Viết Viên ngày đêm khát khao trở về để vun đắp cho ông nội của mình xẻng đất cũng như thắp nén nhang nhưng sự khát khao đó cũng chỉ là ước mơ, cho đến khi ông ra đi năm thứ IX các người em của ông mới giúp ông thỏa ước nguyện với tổ tiên.
Nơi mộ phần của cụ tổ ông Phanxico - PHẠM VĂN KHÔI và bà Maria - PHAN THỊ KHÔI.
Đại gia đình họ Phạm chân thành cảm ơn đến gia đình cụ Phanxico - Maria - Nguyễn Ngọc Niễn là sui gia của cụ ông và cụ bà Phạm Văn Khôi đã cho tổ tiên chúng con nơi nương tựa và được lập mô khang trang như các thành viên khác trong dòng họ. Công đức này gia đình chúng con xin ghi tạc mãi mãi trong lòng.
Ghi chú:
Cụ bà Maria Phạm Thị Thiều là con gái của cụ ông Phạm Văn Khôi và cụ bà Maria Phan Thị Khôi, và cũng là người em của cụ Phạm Viết Viên, trong điều kiện cải cách ruộng đất năm 1955 - 1956 cụ bà Thiều chỉ mang theo bố - mẹ về nhà chồng, không mang theo anh trai và chị dâu của mình được nên mộ cụ cố Phạm Viết Viên bị thất lạc.
Cố tổ VŨ VIẾT SỸ 1775 là vị tổ lâu đời nhất còn lại gia phả của dòng họ của chúng ta.
Sơ lược dòng họ Vũ:
Cụ ông Vũ Viết Sỹ 1775 => 16 - 02 - 1838( âm lịch)
=> ông Vũ Viết Đạo 1822 => 12 - 02 - 1890 ( âm lịch)
=> ông Vũ Viết Thiệu
=> bà Vũ Thị Tý=>
=> Ông Phạm Ngọc Hiển
=> Ông Phạm Hòa Hiệp
=> Ông Phạm Lê Gia Anh.
Lâu nay trong miền Nam chúng con chỉ nghe đến giỗ ông-bà cụ Vũ Viết Đạo. Hôm nay chúng con trở về quê hương được thăm lăng mộ của cụ tổ Vũ Viết Sỹ người thân sinh của cụ Vũ Viết Đạo.
Thăm nhà ông cố Vũ Viết Thiệu.
Gia đình ông Phạm Viết Tinh được sự chấp thuận của chính quyền địa phương, cha chánh xứ Lạc Thành cho khởi công xây mới thêm 72 phần mộ vô danh nữa.
Nhờ tấm lòng rộng mở của quí địa phương là cơ hội giúp gia đình chúng ta giữ mãi được quê hương xưa của mình.
Sáng 24 - 11 - 2013 Gia đình cụ Phạm Viết Tinh cùng cộng đồng giáo xứ Lạc Thành và các thành viên dòng họ dâng thánh lễ tạ ơn và cầu xin cho các linh hồn mồ côi.
Tham dự rước kiệu - Kito vua giáo xứ Thuận Thành
Nghe các cụ lớn tuổi giảng giải nguồn gốc của dòng họ. Cụ Vụ Bản là người cao niên nhất trong dòng họ hiện còn sống, cụ giúp chúng ta hiểu hơn về cuộc đời của Cụ Phạm Viết Viên.
Ông phạm Ngọc Hà đang tra tìm nguồn ngốc họ cụ bà Nguyễn Thị Viên.
Ghi chú:
Dòng họ Nguyễn lưu gia phả được XI đời, nhưng không lưu con gái con gái trong gia phả.
Người cháu đại diện gia đình cụ ông Phạm Viết Tinh thắp nén nhang mời tổ tiên cùng sum vầy bên con cái, cháu chắt.
Bữa cơm thân mật gia đình, cùng nhau sum vầy.
Đến thăm gia đình trưởng tộc của dòng họ Vũ.
Thứ Năm, 21 tháng 11, 2013
Nguyên tắc Vái - Lạy
Khi cúng thì chủ gia đình phải bầy đồ lễ cùng với hoa quả theo nguyên-tắc “đông bình tây quả,” rượu, và nước. Sau đó, phải đốt đèn (đèn dầu, đèn cầy, hay đèn điện), thắp nhang, đánh chuông, khấn, và cúng trước rồi những người trong gia đình theo thứ tự trên dưới cúng sau. Nhang (hương) đèn để mời và chuông để thỉnh tổ tiên. Khi cúng thì phải chắp tay đưa lên ngang trán khấn. Khấn là lời trình với tổ tiên về ngày cúng liên quan đến tên người quá cố, ngày tháng năm ta và tây, tên địa phương mình ở, tên mình và tên những người trong gia đình, lý do cúng và lời cầu nguyên, v.v.. Riêng tên người quá cố ta phải khấn rõ nhỏ. Sau khi khấn rồi, tuỳ theo địa vị của người cúng và người quá cố mà vái hay lạy. Nếu bố cúng con thì chỉ vái bốn vái mà thôi. Nếu con cháu cúng tổ tiên thì phải lạy bốn lạy. Chúng ta cần hiểu cho rõ về ý nghĩa của Cúng, Khấn, Vái, và Lạy.
II. Định-Nghĩa của Cúng, Khấn, Vái, và Lạy
a. Cúng
Khi có giỗ Tết, gia-chủ bày hoa (bông) quả, nước, rượu, cỗ-bàn, chén bát, đũa, muỗng (thìa) lên bàn thờ rồi thắp nhang (hương), thắp đèn, đốt nến (đèn cầy), khấn, vái, hay lạy để tỏ lòng hiếu-kính, biết ơn, và cầu phước-lành. Đây là nghĩa rộng của cúng. Trong nghĩa bình-thường, cúng là thắp nhang (hương), khấn, lạy,và vái.
b. Khấn (*)
Khấn là lời cầu-khẩn lầm-rầm trong miệng khi cúng, tức là lời nói nhỏ liên-quan đến các chi-tiết về ngày tháng năm, nơi-chốn, mục-đích buổi cúng lễ, cúng ai, tên những người trong gia đình, lời cầu xin, và lời hứa.
Sau khi khấn, người ta thường vái vì vái được coi là lời chào kính-cẩn. Người ta thường nói khấn vái là vậy. Trong truyện Kiều, Nguyễn Du dùng từ khấn vái trong câu “Lầm rầm khấn vái nhỏ to,/ Sụp ngồi đặt cỏ trước mồ bước ra.” (câu 95-96)
c. Vái
Vái thường được áp-dụng ở thế đứng, nhất là trong dịp lễ ở ngoài trời. Vái thay thế cho lạy ở trong trường hợp này. Vái là chắp hai bàn tay lại để trước ngực rồi đưa lên ngang đầu, hơi cúi đầu và khom lưng xuống rồi sau đó ngẩng lên, đưa hai bàn tay xuống lên theo nhịp lúc cúi xuống khi ngẩng lên. Tùy theo từng trường-hợp, người ta vái 2,3,4, hay 5 vái (xem phần sau).
d. Lạy
Lạy là hành-động bày tỏ lòng tôn-kính chân-thành với tất-cả tâm-hồn và thể-xác đối với người trên hay người quá-cố vào bậc trên của mình. Có hai thế lạy: thế lạy của đàn ông và thế lạy của đàn bà. Có bốn trường hợp lạy: 2 lạy, 3 lạy, 4 lạy, và 5 lạy. Mỗi trường hợp đều có mang ý-nghĩa khác nhau.
- Thế Lạy Của Đàn Ông
Thế lạy của đàn ông là cách đứng thẳng theo thế nghiêm, chắp hai tay trước ngực và dơ cao lên ngang trán, cúi mình xuống, đưa hai bàn tay đang chắp xuống gần tới mặt chiếu hay mặt đất thì xòe hai bàn tay ra đặt nằm úp xuống, đồng thời quì gối bên trái rồi gối bên phải xuống đất, và cúi rạp đầu xuống gần hai bàn tay theo thế phủ- phục. Sau đó cất người lên bằng cách đưa hai bàn tay chắp lại để lên đầu gối trái lúc bấy giờ đã co lên và đưa về phía trước ngang với đầu gối chân phải đang quì để lấy đà đứng dậy, chân phải đang quì cũng theo đà đứng lên để cùng với chân trái đứng ở thế nghiêm như lúc đầu. Cứ theo thế đó mà lạy tiếp cho đủ số lạy (xem phần Ý-Nghĩa của Lạy dưới đây). Khi lạy xong thì vái ba vái rồi lui ra.
Có thể quì bằng chân phải hay chân trái trước cũng được, tùy theo thuận chân nào thì quì chân ấy trước. Có điều cần nhớ là khi quì chân nào xuống trước thì khi chuẩn-bị cho thế đứng dậy phải đưa chân đó về phía trước nửa bước và tì hai bàn tay đã chắp lại lên đầu gối chân đó để lấy thế đứng lên. Thế lạy theo kiểu này rất khoa-học và vững-vàng. Sở-dĩ phải quì chân trái xuống trước vì thường chân phải vững hơn nên dùng để giữ thế thăng-bằng cho khỏi ngã. Khi chuẩn-bị đứng lên cũng vậy. Sở-dĩ chân trái co lên đưa về phía trước được vững-vàng là nhờ chân phải có thế vững hơn để làm chuẩn.
Thế lạy phủ-phục của mấy nhà sư rất khó. Các Thầy phất tay áo cà sa, đưa hai tay chống xuống ngay mặt đất và đồng-thời quì hai đầu gối xuống luôn. Khi đứng dậy các Thầy đẩy hai bàn tay lấy thế đứng hẳn lên mà không cần phải để tay tỳ lên đầu gối. Sở dĩ được như thế là nhờ các Thầy đã tập-luyện hằng-ngày mỗi khi cúng Phật. Nếu thỉnh-thoảng quí cụ mới đi lễ chùa, phải cẩn-thận vì không lạy quen mà lại bắt chước thế lạy của mấy Thầy thì rất có thể mất thăng-bằng.
- Thế Lạy Của Đàn
Bà
Thế lạy của các bà là cách ngồi trệt xuống đất để hai cẳng chân vắt chéo về phía trái, bàn chân phải ngửa lên để ở phía dưới đùi chân trái. Nếu mặc áo dài thì kéo tà áo trước trải ngay ngắn về phía trước và kéo vạt áo sau về phía sau để che mông cho đẹp mắt. Sau đó, chắp hai bàn tay lại để ở trước ngực rồi đưa cao lên ngang với tầm trán, giữ tay ở thế chắp đó mà cúi đầu xuống. Khi đầu gần chạm mặt đất thì đưa hai bàn tay đang chắp đặt nằm úp xuống đất và để đầu lên hai bàn tay. Giữ ở thế đó độ một hai giây, rồi dùng hai bàn tay đẩy để lấy thế ngồi thẳng lên đồng-thời chắp hai bàn tay lại đưa lên ngang trán như lần đầu. Cứ theo thế đó mà lạy tiếp cho đủ số lạy cần thiết (xem phần Ý Nghĩa của Lạy dưới đây). Lạy xong thì đứng lên và vái ba vái rồi lui ra là hoàn tất thế lạy.
Cũng có một số bà lại áp dụng thế lạy theo cách quì hai đầu gối xuống chiếu, để mông lên hai gót chân, hai tay chắp lại đưa cao lên đầu rồi giữ hai tay ở thế chắp đó mà cúi mình xuống, khi đầu gần chạm mặt chiếu thì xòe hai bàn tay ra úp xuống chiếu rồi để đầu lên hai bàn tay. Cứ tiếp tục lạy theo cách đã trình bày trên. Thế lạy này có thể làm đau ngón chân và đầu gối mà còn không mấy đẹp mắt.
Thế lạy của đàn ông có vẻ hùng-dũng, tượng trưng cho dương. Thế lạy của các bà có tính cách uyển-chuyển tha-thướt, tượng-trưng cho âm. Thế lạy của đàn ông có điều bất-tiện là khi mặc âu-phục thì rất khó lạy. Hiện nay chỉ có mấy vị cao-niên còn áp-dụng thế lạy của đàn ông, nhất là trong dịp lễ Quốc-Tổ. Còn phần đông, người ta có thói quen chỉ đứng vái mà thôi.
Thế lạy của đàn ông và đàn bà là truyền-thống rất có ý-nghĩa của người Việt ta. Nó vừa thành-khẩn vừa trang-nghiêm trong lúc cúng tổ-tiên. Nếu muốn giữ phong-tục tốt đẹp này, các bạn nam nữ thanh-niên phải có lòng tự-nguyện. Muốn áp-dụng thế lạy, nhất là thế lạy của đàn ông, ta phải tập-dượt lâu mới nhuần-nhuyễn được. Nếu đã muốn thì mọi việc sẽ thành.
III . Ý-Nghĩa của Lạy và Vái
Số lần lạy và vái đều mang một ý-nghĩa rất đặc-biệt. Sau đây chúng tôi xin trình-bày về ý-nghĩa của vái và lạy. Đây là phong-tục đặc-biệt của Việt Nam ta mà người Tàu không có tục-lệ này. Khi cúng, người Tàu chỉ lạy 3 lạy hay vái 3 vái mà thôi.
Thế lạy của các bà là cách ngồi trệt xuống đất để hai cẳng chân vắt chéo về phía trái, bàn chân phải ngửa lên để ở phía dưới đùi chân trái. Nếu mặc áo dài thì kéo tà áo trước trải ngay ngắn về phía trước và kéo vạt áo sau về phía sau để che mông cho đẹp mắt. Sau đó, chắp hai bàn tay lại để ở trước ngực rồi đưa cao lên ngang với tầm trán, giữ tay ở thế chắp đó mà cúi đầu xuống. Khi đầu gần chạm mặt đất thì đưa hai bàn tay đang chắp đặt nằm úp xuống đất và để đầu lên hai bàn tay. Giữ ở thế đó độ một hai giây, rồi dùng hai bàn tay đẩy để lấy thế ngồi thẳng lên đồng-thời chắp hai bàn tay lại đưa lên ngang trán như lần đầu. Cứ theo thế đó mà lạy tiếp cho đủ số lạy cần thiết (xem phần Ý Nghĩa của Lạy dưới đây). Lạy xong thì đứng lên và vái ba vái rồi lui ra là hoàn tất thế lạy.
Cũng có một số bà lại áp dụng thế lạy theo cách quì hai đầu gối xuống chiếu, để mông lên hai gót chân, hai tay chắp lại đưa cao lên đầu rồi giữ hai tay ở thế chắp đó mà cúi mình xuống, khi đầu gần chạm mặt chiếu thì xòe hai bàn tay ra úp xuống chiếu rồi để đầu lên hai bàn tay. Cứ tiếp tục lạy theo cách đã trình bày trên. Thế lạy này có thể làm đau ngón chân và đầu gối mà còn không mấy đẹp mắt.
Thế lạy của đàn ông có vẻ hùng-dũng, tượng trưng cho dương. Thế lạy của các bà có tính cách uyển-chuyển tha-thướt, tượng-trưng cho âm. Thế lạy của đàn ông có điều bất-tiện là khi mặc âu-phục thì rất khó lạy. Hiện nay chỉ có mấy vị cao-niên còn áp-dụng thế lạy của đàn ông, nhất là trong dịp lễ Quốc-Tổ. Còn phần đông, người ta có thói quen chỉ đứng vái mà thôi.
Thế lạy của đàn ông và đàn bà là truyền-thống rất có ý-nghĩa của người Việt ta. Nó vừa thành-khẩn vừa trang-nghiêm trong lúc cúng tổ-tiên. Nếu muốn giữ phong-tục tốt đẹp này, các bạn nam nữ thanh-niên phải có lòng tự-nguyện. Muốn áp-dụng thế lạy, nhất là thế lạy của đàn ông, ta phải tập-dượt lâu mới nhuần-nhuyễn được. Nếu đã muốn thì mọi việc sẽ thành.
III . Ý-Nghĩa của Lạy và Vái
Số lần lạy và vái đều mang một ý-nghĩa rất đặc-biệt. Sau đây chúng tôi xin trình-bày về ý-nghĩa của vái và lạy. Đây là phong-tục đặc-biệt của Việt Nam ta mà người Tàu không có tục-lệ này. Khi cúng, người Tàu chỉ lạy 3 lạy hay vái 3 vái mà thôi.
a. Ý-Nghĩa Của 2
Lạy và 2 Vái
Hai lạy dùng để áp-dụng cho người sống như trong trường-hợp cô dâu chú rể lạy cha mẹ. Khi đi phúng-điếu, nếu là vai dưới của người quá-cố như em, con cháu, và những người vào hàng con em, v.v., ta nên lạy 2 lạy.
Nếu vái sau khi đã lạy, người ta thường vái ba vái. Ý-nghĩa của ba vái này, như đã nói ở trên là lời chào kính-cẩn, chứ không có ý-nghĩa nào khác. Nhưng trong trường- hợp người quá-cố còn để trong quan-tài tại nhà quàn, các người đến phúng- điếu, nếu là vai trên của người quá-cố như các bậc cao-niên, hay những người vào hàng cha, anh, chị, chú, bác, cô, dì, v. v., của người quá-cố, thì chỉ đứng để vái hai vái mà thôi. Khi quan-tài đã được hạ-huyệt, tức là sau khi chôn rồi, người ta vái người quá cố 4 vái.
Theo nguyên lý âm-dương, khi chưa chôn, người quá-cố được coi như còn sống nên ta lạy 2 lạy. Hai lạy này tượng-trưng cho âm dương nhị khí hòa-hợp trên dương-thế, tức là sự sống. Sau khi người quá cố được chôn rồi, phải lạy 4 lạy.
Hai lạy dùng để áp-dụng cho người sống như trong trường-hợp cô dâu chú rể lạy cha mẹ. Khi đi phúng-điếu, nếu là vai dưới của người quá-cố như em, con cháu, và những người vào hàng con em, v.v., ta nên lạy 2 lạy.
Nếu vái sau khi đã lạy, người ta thường vái ba vái. Ý-nghĩa của ba vái này, như đã nói ở trên là lời chào kính-cẩn, chứ không có ý-nghĩa nào khác. Nhưng trong trường- hợp người quá-cố còn để trong quan-tài tại nhà quàn, các người đến phúng- điếu, nếu là vai trên của người quá-cố như các bậc cao-niên, hay những người vào hàng cha, anh, chị, chú, bác, cô, dì, v. v., của người quá-cố, thì chỉ đứng để vái hai vái mà thôi. Khi quan-tài đã được hạ-huyệt, tức là sau khi chôn rồi, người ta vái người quá cố 4 vái.
Theo nguyên lý âm-dương, khi chưa chôn, người quá-cố được coi như còn sống nên ta lạy 2 lạy. Hai lạy này tượng-trưng cho âm dương nhị khí hòa-hợp trên dương-thế, tức là sự sống. Sau khi người quá cố được chôn rồi, phải lạy 4 lạy.
b. Ý-Nghĩa Của 3
Lạy và 3 Vái
Khi đi lễ Phật, ta lạy 3 lạy. Ba lạy tượng-trưng cho Phật, Pháp, và Tăng (xin xem bài về “Nghĩa Đích Thực của Quy Y Tam Bảo” đã được phổ biến trước đây và sẽ được nhuận sắc và phổ biến). Phật ở đây là giác, tức là giác-ngộ, sáng-suốt, và thông hiểu mọi lẽ. Pháp là chánh, tức là điều chánh-đáng, trái với tà ngụy. Tăng là tịnh, tức là trong-sạch, thanh-tịnh, không bợn-nhơ. Đây là nói về nguyên-tắc phải theo. Tuy-nhiên, còn tùy mỗi chùa, mỗi nơi, và thói quen, người ta lễ Phật có khi 4 hay 5 lạy.
Trong trường-hợp cúng Phật, khi ta mặc đồ Âu-phục, nếu cảm thấy khó-khăn trong khi lạy, ta đứng nghiêm và vái ba vái trước bàn thờ Phật.
Khi đi lễ Phật, ta lạy 3 lạy. Ba lạy tượng-trưng cho Phật, Pháp, và Tăng (xin xem bài về “Nghĩa Đích Thực của Quy Y Tam Bảo” đã được phổ biến trước đây và sẽ được nhuận sắc và phổ biến). Phật ở đây là giác, tức là giác-ngộ, sáng-suốt, và thông hiểu mọi lẽ. Pháp là chánh, tức là điều chánh-đáng, trái với tà ngụy. Tăng là tịnh, tức là trong-sạch, thanh-tịnh, không bợn-nhơ. Đây là nói về nguyên-tắc phải theo. Tuy-nhiên, còn tùy mỗi chùa, mỗi nơi, và thói quen, người ta lễ Phật có khi 4 hay 5 lạy.
Trong trường-hợp cúng Phật, khi ta mặc đồ Âu-phục, nếu cảm thấy khó-khăn trong khi lạy, ta đứng nghiêm và vái ba vái trước bàn thờ Phật.
c. Ý-Nghĩa Của 4
Lạy và 4 Vái
Bốn lạy để cúng người quá-cố như ông bà, cha mẹ, và thánh-thần. Bốn lạy tượng-trưng cho tứ-thân phụ-mẫu, bốn phương (đông: thuộc dương, tây: thuộc âm, nam: thuộc dương, và bắc: thuộc âm), và tứ-tượng (Thái Dương,Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm). Nói chung, bốn lạy bao-gồm cả cõi âm lẫn cõi dương mà hồn ở trên trời và phách hay vía ở dưới đất nương vào đó để làm chỗ trú-ngụ.
Bốn vái dùng để cúng người quá-cố như ông bà, cha mẹ, và thánh thần, khi không thể áp-dụng thế lạy.
d.Ý-Nghĩa Của 5 Lạy và 5 Vái
Ngày xưa người ta lạy vua 5 lạy. Năm lạy tượng-trưng cho ngũ-hành (kim, mộc, thuỷ, hỏa, và thổ), vua tượng-trưng cho trung-cung tức là hành-thổ màu vàng đứng ở giữa. Còn có ý-kiến cho rằng 5 lạy tượng-trưng cho bốn phương (đông, tây, nam, bắc) và trung-ương, nơi nhà vua ngự. Ngày nay, trong lễ giỗ Tổ Hùng-Vương, quí-vị trong ban tế lễ thường lạy 5 lạy vì Tổ Hùng-Vương là vị vua khai-sáng giống nòi Việt.
Năm vái dùng để cúng Tổ khi không thể áp-dụng thế lạy vì quá đông người và không có đủ thì-giờ để mỗi người lạy 5 lạy.
IV Kết Luận
Phong tục có được là do thói quen mà mọi người đã chấp nhận, nhiều khi không giải thích được lý do tại sao lại như thế mà chỉ biết làm theo cho đúng thôi. Trong mỗi gia đình Việt Nam, dù theo đạo nào cũng vậy, chúng ta, con dân nước Việt, hãy cố gắng thiết lập một bàn thờ gia tiên. Có như thế, con cháu ta mới có cơ hội học hỏi cách thiết lập bàn thờ gia tiên, và hiểu được ý nghĩa của việc thờ cúng ra sao.
Thờ cúng là cách biểu thị lòng nhớ ơn tổ tiên cũng như lòng thương và hiếu thảo đối với ông bà cha mẹ. Đây là một truyền thống văn hóa tốt đẹp của người Việt mà chúng ta cần phải duy trì.
Bốn lạy để cúng người quá-cố như ông bà, cha mẹ, và thánh-thần. Bốn lạy tượng-trưng cho tứ-thân phụ-mẫu, bốn phương (đông: thuộc dương, tây: thuộc âm, nam: thuộc dương, và bắc: thuộc âm), và tứ-tượng (Thái Dương,Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm). Nói chung, bốn lạy bao-gồm cả cõi âm lẫn cõi dương mà hồn ở trên trời và phách hay vía ở dưới đất nương vào đó để làm chỗ trú-ngụ.
Bốn vái dùng để cúng người quá-cố như ông bà, cha mẹ, và thánh thần, khi không thể áp-dụng thế lạy.
d.Ý-Nghĩa Của 5 Lạy và 5 Vái
Ngày xưa người ta lạy vua 5 lạy. Năm lạy tượng-trưng cho ngũ-hành (kim, mộc, thuỷ, hỏa, và thổ), vua tượng-trưng cho trung-cung tức là hành-thổ màu vàng đứng ở giữa. Còn có ý-kiến cho rằng 5 lạy tượng-trưng cho bốn phương (đông, tây, nam, bắc) và trung-ương, nơi nhà vua ngự. Ngày nay, trong lễ giỗ Tổ Hùng-Vương, quí-vị trong ban tế lễ thường lạy 5 lạy vì Tổ Hùng-Vương là vị vua khai-sáng giống nòi Việt.
Năm vái dùng để cúng Tổ khi không thể áp-dụng thế lạy vì quá đông người và không có đủ thì-giờ để mỗi người lạy 5 lạy.
IV Kết Luận
Phong tục có được là do thói quen mà mọi người đã chấp nhận, nhiều khi không giải thích được lý do tại sao lại như thế mà chỉ biết làm theo cho đúng thôi. Trong mỗi gia đình Việt Nam, dù theo đạo nào cũng vậy, chúng ta, con dân nước Việt, hãy cố gắng thiết lập một bàn thờ gia tiên. Có như thế, con cháu ta mới có cơ hội học hỏi cách thiết lập bàn thờ gia tiên, và hiểu được ý nghĩa của việc thờ cúng ra sao.
Thờ cúng là cách biểu thị lòng nhớ ơn tổ tiên cũng như lòng thương và hiếu thảo đối với ông bà cha mẹ. Đây là một truyền thống văn hóa tốt đẹp của người Việt mà chúng ta cần phải duy trì.
Khải-Chính Phạm
Kim-Thư
Thứ Hai, 18 tháng 11, 2013
Chuyện đầu thai của kiếp người
Nhiều
trường hợp đầu thai kỳ lạ trong cộng đồng dân tộc thiểu số ở tỉnh Hòa Bình đã
được báo chí Việt Nam phản ánh những năm gần đây.
Cậu bé
tự nhận mình từng chết đuối
Cuối
năm 2010, nhiều tờ báo ở Việt Nam đăng tải câu chuyện “đầu thai” của một bé
trai ở thị trấn Vụ Bản, Lạc Sơn, Hòa Bình.
Theo
thông tin được đăng tải trên báo chí, anh Tân và chị Thuận đều là cán bộ công
tác tại thị trấn. Hai người kết hôn năm 1987, đến năm 1992 có cháu trai đặt tên
là Nguyễn Phú Quyết Tiến. Khi 5 tuổi, Tiến chẳng may chết đuối.
Bỗng
nhiên, vào một ngày đầu năm 2006, có một cháu bé tên Bùi Lạc Bình xuất hiện tại
gia đình anh chị và khẳng định mình chính là cháu Tiến.
Cháu
Bình sinh ngày 06/10/2002, là con anh Hoan, chị Dự, người dân tộc Mường sống
trong bản Cọi, Lạc Sơn, Hòa Bình. Ngay từ khi biết nói Bình đã khăng khăng bảo
mình là con người Kinh, là con bố Tân, mẹ Thuận, nhà trên thị trấn Vụ Bản.
Có một
lần chị Dự có đánh Bình, cháu bảo: “Con đã chết một lần rồi, mẹ đừng đánh con
lại chết lần nữa đấy”. Sau mỗi lần bị mắng, cháu lại đòi được về nhà. Một lần
chị Dự chở cháu đi, và điều kì lạ là Bình chỉ chính xác đến địa chỉ của nhà anh
Tân.
Sau đó,
anh Tân đã cùng với chị Thuận cũng tìm đến nhà vợ chồng anh Hoan, chị Dự. Anh
xin phép bố mẹ đẻ của Bình, đưa cháu về nhà mình chơi. Vừa mở cửa nhà, Bình lập
tức xuống xe và chạy tót vào trong và mở tủ bới đồ đạc. Anh Tân hỏi: “Cháu đang
tìm gì?” - “Tìm cái máy bay và cần cẩu”. Anh Tân giật mình vì đây là hai món đồ
chơi anh đã mua cho cháu Tiến trước đây.
Điều
ngạc nhiên hơn, trước đó, chính bà Thỉn, bà nội cháu Bình cũng từng cho biết:
“Từ ngày thằng Bình bắt đầu bi bô tập nói tôi đã biết nó không phải người Mường
mà là người Kinh. Nó nói tiếng Kinh rành rọt, điều mà chưa một đứa bé người
Mường nào giống thế”.
Sau một
lần Bình bị ốm nặng, sốt cao, cháu cứ luôn miệng “dọa”: “Mẹ không cho con về,
con lại chết lần nữa!”. Hoảng quá, lần này chị đánh liều gọi cho anh Tân đưa
cháu về nhà chơi. Cháu Bình về nhà anh thì khỏe khoắn, vui vẻ, không còn đau ốm
nữa.
Từ cuối
năm 2006, bố mẹ đẻ của Bình đã cho cháu về ở hẳn với nhà anh Tân, chị Thuận.
Bé trai
đầu thai làm con gái nhà hàng xóm
Một
hiện tượng “đầu thai” khác cũng được ghi nhận ở bản Cọi, đó là chuyện của cô bé
Bùi Thị Hồng Thắm, sinh năm 1991.
Theo
chị Bùi Thị Toàn, mẹ của Thắm, từ bé cháu đã có những biểu hiện rất lạ lùng.
Khi Thắm bi bô biết nói, một lần hai mẹ con đang chơi đùa bỗng cháu xị mặt rồi
nằng nặc đòi: “Mẹ đưa con về nhà” dù lúc đó cháu đang ở trong nhà mình.
Một
hôm, đang chơi đùa, Thắm chỉ vào bà Nguyễn Thị Nghe, người ở đầu làng rồi nói
với bà nội: “Mẹ cháu kia kìa”. Một lần khác, khi được bố mẹ cho ra đồng, Thắm
lại chỉ tay vào nhà bà Nghe rồi bảo “Nhà con đây này”. Chị Toàn bảo con “Con
thích thì mẹ đưa vào nhà con”, thế nhưng khi vừa bước vào cổng Thắm đột nhiên
nói: “Con không vào nữa đâu, chị Hằng đang ở trong đó, con ghét chị ấy vì chị
đã xui con trèo cây làm con ngã chết”.
Từ đó,
mọi người phát hiện ra chuyện con nhà bà Nghe đầu thai vào bé Thắm.
Cậu bé
Ly là con trai bà Nghe. Năm được 7 tuổi, một hôm Ly được chị gái tên Hằng dẫn
đi hái ổi ở bên triền núi. Trong lúc trèo ra hái ổi, Ly bị ngã rơi xuống đất,
chấn thương sọ não và mất ngay sau đó…
Kiếp
trước của con nhiều tuổi hơn cả bố mẹ
Nếu các
vụ đầu thai ở bản Cọi chỉ xuất hiện lác đác trong thời gian gần đây thì hiện
tượng này đã xảy ra “như cơm bữa” trong hàng chục năm qua tại các bản làng
thuộc xã Chiềng Châu, huyện Mai Châu, Hòa Bình.
Theo
báo Pháp luật và Thời đại, tại bản Chiềng Châu có nhiều đứa trẻ
sinh ra hoàn toàn bình thường, đến khi 3 – 4 tuổi lại nhận mình là …. con của
những gia đình khác xa đến cả chục cây số, dù trước đó hai bên gia đình không
có bất cứ mối quan hệ nào.
Trường
hợp ‘‘đầu thai’’ hi hữu nhất mà mọi người thường nhắc đến là trường hợp xảy ra
tại gia đình anh Khà Văn Ôn, người dân tộc Thái ở bản Nà Sài. Con gái của anh
Ôn tên Khà Thì Dịu Hiền, sinh năm 2007 tự nhận mình là đầu thai của một người
phụ nữ sinh năm 1966 bị mất sớm do bạo bệnh. Nếu tính tuổi của tiền kiếp thì bé
Dịu Hiền còn… già hơn cả bố mẹ.
Khi Dịu
Hiền mất vì bạo bệnh, gia đình mời ông thầy mo trong bản đến làm lễ cúng ma cho
con theo phong tục địa phương. ‘‘Ông thầy mo ban đầu gọi ‘‘hồn’’ là cháu thì
kiểu gì cũng cúng không thành, phải đến khi gọi cháu là…chị thì mới ngồi làm lễ
được. Thầy mo bấm tuổi rồi khẳng định “hồn” đã hơn 40 tuổi rồi khiến mọi người
sợ hãi...
Trước
hàng loạt câu chuyện về “đầu thai” được ghi nhận, TS. Vũ Thế Khanh, Tổng giám
đốc Liên hiệp khoa học công nghệ - Tin học ứng dụng (UIA) khẳng định: ‘‘Nhiều
năm tham gia những chương trinh nghiên cứu, giao lưu và các khả năng đặc biệt,
chúng tôi đã ghi nhận một số câu chuyện tương tự như trường hợp tại xã Chiềng
Châu. Đây là những trường hợp dân gian gọi là đầu thai hoặc tái sinh. Cũng
không thể coi ‘‘đầu thai’’ là hiện tượng mê tín dị đoan mà chỉ nên coi nó là
hiện tượng khó lí giải mà khoa học chưa thể với tới được. Trên thực tế, những
câu chuyện về ‘‘tái sinh’’ vẫn tồn tại bất chấp việc chúng ta có tin hay
không’’
Thứ Bảy, 16 tháng 11, 2013
Thứ Sáu, 1 tháng 11, 2013
Hành Trình vào Nam
Đang bước qua năm thứ 60, 1954 gia đình cụ ông Phạm Viết Tinh ra đi trong bối cảnh loạn lạc chỉ có 9 người:
Phạm Viết Tinh
Vũ Thị Tý
Phạm Thị Vỉ
Phạm Ngọc Hiển
Phạm Thanh Hải
Phạm Thị Hon
Phạm Thị Hin
Phạm Quang Hồ
Phạm Thị Dâu.
Gia đình đi bộ ra cảng Hải Phòng đến đị cư ban đầu tại Mỏ Cày - Bến Tre nơi đóng quân của cụ ông Phạm Viết Tinh.
Sống tại Mỏ Cày - Bến Tre ( 1954 - 1959) ông Phạm Viết Tinh giải ngũ, gia đình tiếp tục di cư về Võ Dõng - Gia Kiện phá rẫy dựng nghiệp ở đó cho đến nay( 2013).
Hiện nay con cháu sống tản mạn khắp nơi, chủ yếu ở Miền đông Nam Bộ như Đồng Nai, Tp.HCM. Một số định cư ở Mỹ như ông Phạm Xuân Hán, con ông Phạm Ngọc Hiển: Phạm Thị Linh Phương( Arizona), Phạm Việt Hoàng, Phạm Thanh Hiếu( New York).
Ngày nay Phạm Gia Tinh đã có:
*20 người con
* 50 người cháu
* 56 người chắt
* 2 người chút.
Tổng cộng:
Phạm Viết Tinh
Vũ Thị Tý
Phạm Thị Vỉ
Phạm Ngọc Hiển
Phạm Thanh Hải
Phạm Thị Hon
Phạm Thị Hin
Phạm Quang Hồ
Phạm Thị Dâu.
Gia đình đi bộ ra cảng Hải Phòng đến đị cư ban đầu tại Mỏ Cày - Bến Tre nơi đóng quân của cụ ông Phạm Viết Tinh.
Sống tại Mỏ Cày - Bến Tre ( 1954 - 1959) ông Phạm Viết Tinh giải ngũ, gia đình tiếp tục di cư về Võ Dõng - Gia Kiện phá rẫy dựng nghiệp ở đó cho đến nay( 2013).
Hiện nay con cháu sống tản mạn khắp nơi, chủ yếu ở Miền đông Nam Bộ như Đồng Nai, Tp.HCM. Một số định cư ở Mỹ như ông Phạm Xuân Hán, con ông Phạm Ngọc Hiển: Phạm Thị Linh Phương( Arizona), Phạm Việt Hoàng, Phạm Thanh Hiếu( New York).
Ngày nay Phạm Gia Tinh đã có:
*20 người con
* 50 người cháu
* 56 người chắt
* 2 người chút.
Tổng cộng:
Thứ Năm, 31 tháng 10, 2013
Thứ Ba, 29 tháng 10, 2013
Nguồn ngốc Họ Phạm - Nam Định
1. Mang dáng dấp bình
dị như bao ngôi từ đường dòng họ khác ở đồng bằng Bắc Bộ nhưng ngôi từ đường
dòng họ Phạm tại xã Xuân Kiên-Xuân Trường-Nam Định lại ẩn chứa một niềm tự hào
mà ít nơi nào có được bởi đây là nơi lưu giữ và phát huy lịch sử và truyền thống
của một dòng họ, một vương triều.
Từ đường dòng họ Phạm là di tích thờ vị thuỷ tổ của dòng họ là Phạm Đình Trú.
Phạm Đình Trú tên thật là Mạc Đăng Thận, là cháu 3 đời của Thái tổ Mạc Đăng
Dung. Sinh thời ông được giao nhiệm vụ coi giữ lăng miếu tổ tiên dòng họ Mạc ở
Cổ Trai-Dương Kinh của nhà Mạc.
Mạc Đăng Thận sinh ra và lớn lên trong giai đoạn đang suy vong của nhà Mạc.
. Trong bối cảnh đó, lực lượng Nam Triều được củng cố lại đã liên tục
giành những thắng lợi quan trọng. Cuối năm 1591, Trịnh Tùng điều động 6 vạn quân
chia thành 5 đạo tiến ra bắc. Để đối phó lại, nhà Mạc cũng huy động một lực
lượng tới 10 vạn quân. Một trận quyết chiến diễn ra ở Sơn Tây, trong trận này
nhà Mạc đại bại. Thừa thắng, Trịnh Tùng cho quân áp sát thành Thăng Long để uy
hiếp.
Năm 1592, quân Nam Triều mở cuộc tấn công quyết định vào Thăng Long. Trịnh Tùng
giành toàn thắng. Cục diện Nam-Bắc triều về cơ bản đã kết thúc mặc dù một số
con cháu dòng họ Mạc cùng tướng lĩnh phải chạy lên Cao Bằng cố thủ cho đến năm
1677 mới chấm dứt hoàn toàn.
Truyền thuyết dòng họ[1] cho biết giai đoạn này Mạc Đăng Thận
thấy đại cục đã hỏng bèn cùng 500 quân bí mật mang theo hài cốt của Hoàng tộc
trong đó có hài cốt của Thái tổ Mạc Đăng Dung, Thái tông Mạc Đăng Doanh, Hiến
tông Mạc Phúc Hải, Tuyên tông Mạc Phúc Nguyên cùng một số báu vật như gia phả
bằng đồng của dòng họ, thanh đại đao của Thái tổ Mạc Đăng Dung[2] ra trấn giữ Đồ Sơn.
Vài năm sau, khi thấy nhà Mạc không thể thay đổi được cục diện, Mạc Đăng Thận
bèn giải tán đội quân, cất giấu hài cốt của Hoàng tộc cùng một số báu vật dưới
lòng thuyền rồi chất đồ gốm lên trên, cải trang thành đoàn thuyền buôn dong
buồm chạy sang đảo Hải Nam tạm trú.
Tha phương một thời gian, được tin nội chiến giữa hai tập đoàn Trịnh-Nguyễn
diễn ra quyết liệt, việc truy tìm dòng dõi nhà Mạc đã đỡ phần gay gắt, Mạc Đăng
Thận quyết định trở về đất nước. Nhận thấy vùng đất Cồn Lau[3] ven cửa Lạn Môn thuộc phủ Thiên Trường đất đai trù phú,
dân cư thưa thớt, Mạc Đăng Thận bèn giấu kín tung tích bằng cách từ chữ Mạc lấy
bộ thảo đầu đổi thành chữ Phạm, thay tên là Đình Trú (Dừng lại, trú ngụ), đồng
thời chiêu tập dân nghèo khai phá được hơn 700 mẫu ruộng, động viên giúp đỡ
nhân dân dựng nhà lập ấp, phát triển nông tang.
Truyền thuyết dòng họ cùng một số tư liệu cho biết khi về vùng đất Cồn Lau sinh
sống, Mạc Đăng Thận đã mang di cốt của bốn vị vua đầu triều cùng một số di cốt
hoàng tộc chôn cất tại cánh đồng Cồn Kiên, dùng câu nói “tứ hà tổ, bất tri hà
tổ” (mộ của bốn vị tổ, nhưng không biết là tổ nào) để giấu kín tung tích dòng
họ. Mặc dù phải mai danh ẩn tích, giấu kín nguồn gốc cùng phần mộ tổ tiên nhưng
trong tâm thức những thế hệ kế thành dòng họ Phạm gốc Mạc thì hồi ức của một
vương triều cùng những ngày giỗ của những vị vua được chôn cất tại quê hương
mới vẫn được khắc ghi. Hàng năm vào mỗi dịp giỗ của từng vị vua dòng họ đều
tiến hành dâng hương, cúng tế. Nghi thức diễn ra đơn giản nhưng trang nghiêm và
đầm ấm, có sự tham gia đông đủ của dòng họ.
2. Phạm Đình Trú (Mạc Đăng Thận) sinh được 3 người con trai là Phạm Công An,
Phạm Công úc, Phạm Đình Tú. Trong số 3 người con trai thì Phạm Công An là con
trai trưởng nên chịu trách nhiệm kế nghiệp cha trong việc ổn định và phát triển
cuộc sống dòng họ sau một thời gian dài sống lưu vong. Với mục đích hoàn thành
tâm nguyện của cha, ông đã cho mời những danh sư giỏi về dạy dỗ các thế hệ con
cháu để phát triển dòng họ. Dưới sự hướng dẫn, chỉ bảo của ông, các thế hệ con
cháu dòng họ Phạm gốc Mạc ở Kiên Lao kế tiếp nhau phát triển theo con đường võ
học rồi giữ nhiều chức vụ trong triều đình. Gia phả dòng họ có ghi con trai ông
là Phạm Công Phú (Đô Cối) trúng lực sĩ xuất thân, làm đến chức Đô chỉ huy Đồng
tri, tử trận năm 39 tuổi, được truy phong Vạn Sơn hầu. Con trai cả của Phạm
Công Phú là Phạm Hữu Nghĩa (Đô Cương) lại trúng lực sĩ xuất thân, giữ chức Tróc
sinh lực sĩ, Ty cẩm y vệ, Ty lực sĩ điện Kim Quang, tước Viên Hùng bá. Tiếp đến
là ba người con trai của Phạm Hữu Nghĩa là Phạm Hữu Hoan cũng được phong tới
chức Trì uý tướng quân; Phạm Hữu Nhân được phong chức Đô chỉ huy sứ Đồng Tri,
tước Quảng Đình hầu; Phạm Hữu Tín giữ chức Bả du đội, tước Triều Vạn bá. Cả bốn
cha con Viên Hùng bá Phạm Hữu Nghĩa đều làm quan dưới các triều vua Lê Chân
Tông (1643-1649), Lê Thần Tông (1649-1662), Lê Huyền Tông (1663-1671). Thống kê
trong gia phả dòng họ, kể từ khi về vùng đất Kiên Lao sinh sống, chỉ riêng
ngành cả của Phạm Công An có tổng cộng 14 người được phong các chức từ Tri phủ
đến Tướng quân.
Với những công lao đức độ, phẩm chất cùng những đóng góp của Phạm Công An đối
với dòng họ và quê hương, sau này triều đình nhà Nguyễn đã ghi nhận và sắc
phong ông là Đoan túc Dực bảo trung hưng Lê triều Thái bảo Phạm Công An tôn
thần.
Riêng đối với ngành 2 và ngành 3 của dòng họ Phạm gốc Mạc, cuốn gia phả cũng
cho biết sau này một số con cháu dòng họ Phạm gốc Mạc thuộc ngành 2 (Phạm Công
úc) dời về lập ấp tại Ngọc Tỉnh (Xuân Hùng-Xuân Trường-Nam Định), con cháu
ngành 3 (Phạm Đình Tú) cũng tiến hành khai hoang mở làng tại Hoành Tây (Giao
Yến-Giao Thuỷ-Nam Định). Cả hai ngành này cũng đã kế tục xứng đáng với truyền
thống tổ tiên trong việc đào tạo ra nhiều nhân tài cho đất nước.
ảnh 2: Sắc phong
niên đại Khải Định 9 (1924) phong cho Phạm Công An tôn thần.
|
3. Ngôi từ đường họ Phạm gốc Mạc hiện nay thuộc xóm 14, xã Xuân Kiên huyện Xuân
Trường, tỉnh Nam Định. Văn biaPhạm tộc bi ký do Mai Ngọ Hiên soạn
khắc năm Thành Thái Mậu Tuất (1898) cho biết xưa kia ngôi từ đường được xây
dựng với 3 gian nhà tranh nhỏ hẹp. Đến năm 1898, dòng họ quyên góp tiền xây
dựng khu chính tẩm, lợp lại mái tiền đường thành mái ngói đồng thời cho lát
toàn bộ nền từ đường bằng gạch đỏ. Năm Thành Thái thứ 11 (1899), cả dòng họ huy
động công sức để trùng tu lại từ đường. Văn bia Phạm tộc bi ký soạn
khắc năm Thành Thái Bính Ngọ (1906) ghi lại vào năm này tiền đường được hoàn
thành gồm 3 gian gỗ lim, lợp ngói to lớn hơn. Cùng với việc xây dựng lại tiền
đường thì dòng họ cũng tiến hành kiến thiết lại hệ thống khuôn viên di tích
khang trang hơn. Toàn bộ công việc xây dựng, thanh toán tiền công được khắc vào
via đá ghi công vào năm Duy Tân năm thứ 2 (1908).
Từ đường họ Phạm gốc Mạc là công trình còn bảo lưu được những phong cách kiến
trúc gỗ cổ truyền của dân tộc. Kể từ khi xây dựng đến nay, công trình luôn được
các thế hệ con cháu quan tâm tôn tạo, tu bổ nên các hạng mục kiến trúc vẫn giữ
được độ bền vững, các di vật được bảo quản khá tốt, môi trường cảnh quan phong
quang thoáng đãng. Bên cạnh việc quan tâm đến công trình kiến trúc từ đường thì
các ngôi mộ của những người trong hoàng tộc Mạc tại cánh đồng Cồn Kiên cũng
được dòng họ chú ý giữ gìn, tôn tạo. Đợt cải tạo, chống lún sụt năm 2000, dòng
họ đã tìm thấy một số đồ tuỳ táng như bát, đĩa, mảnh gốm sứ mang phong cách
nghệ thuật TK VII-XVIII. Mặc dù điều đó chưa đủ căn cứ để khẳng định chính xác
đây là mộ của các vị Hoàng đế nhà Mạc nhưng qua đây cũng cho những nhận định
ban đầu về niên đại của các ngôi mộ này. Bên cạnh đó những di vật còn được dòng
họ lưu giữ như thanh đại đao, gia phả, sắc phong cùng việc lập thần chủ thờ tự
các vị vua từ bao đời nay là một minh chứng khẳng định nguồn gốc của dòng họ Phạm
nơi đây.
ảnh 3: Bài vị:
“Thượng tổ Mạc triều liệt vị tiên hoàng đế thần vị” thờ tại từ đường.
|
Hàng năm, ngày lễ lớn nhất của dòng họ được tổ chức vào ngày 9,10 tháng 2 âm
lịch không chỉ là dịp con cháu xa gần tụ họp, được đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng
tâm linh mà còn thể hiện tinh thần uống nước nhớ nguồn, lưu giữ và phát huy
truyền thống lịch sử của dòng họ, thoả mãn tâm lý hướng về cội nguồn, hiểu về
nơi sinh thành của cha ông, về quá trình đấu tranh lao động để gây dựng cơ
nghiệp lâu dài cho thế hệ mai sau. Tất cả những yếu tố đó góp phần quan trọng
vào việc định hướng và giáo dục con cháu tiếp nối nhau phát huy tự hào và tiến
bộ hơn.
Với những giá trị tiêu biểu về kiến trúc nghệ thuật, lịch sử và văn hoá, ngày
4/2/2006 ngôi từ đường họ Phạm gốc Mạc đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh Nam Định
công nhận và cấp bằng di tích lịch sử-văn hoá theo Quyết định số 430/QĐ-UBND,
tạo điều kiện thuận lợi để dòng họ bảo vệ, bảo tồn và phát huy giá trị có hiệu
quả cao.
Vũ Đại An
Ban quản lý di tích và
danh thắng tỉnh Nam Định.
[1] Ngoài truyền thuyết, chúng tôi còn căn
cứ vào tư liệu Mộ bốn vua Thái tổ, Thái tông, Hiến tông triều Mạc và thanh đại
đao nặng 60 cân (36,9kg) của tác giả Lê Xuân Quang đăng trên Phát hiện mới khảo
cổ học năm 1996; Tư liệu Phát hiện thấy sinh phần của bốn Hoàng đế triều Mạc và
thanh đại đao của Mạc Thái tổ Đăng Dung đăng trên báo An ninh Hải Phòng số 497,
ngày 13/6/2000 của tác giả Trần Phương.
[2] Hiện nay cuốn gia phả bằng đồng đã bị
giặc Pháp tiêu huỷ trong giai đoạn 1949-1953, còn thanh đại đao được thờ tại từ
đường ngành 2 dòng họ Phạm gốc Mạc ở Ngọc Tỉnh-Xuân Hùng-Xuân Trường-Nam Định.
(Nay thanh Long đao đã được đưa về thờ tại Thái miếu mới xây dựng lại tại Xã
Ngũ Đoan - Dương kinh xưa- thuộc huyện Kiến Thụy, Hải Phòng- Xin xem bài Truyền
thuyết về thanh long đao trong mục Tư liệu-mactoc.com)
[3] Cồn Lau sau đổi thành Kiên Lao, nay là
xã Xuân Kiên-Xuân Trường-Nam Định.
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Nam Định
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
8:5' 15/7/2013

Thờ cúng tổ tiên gắn liền với từng gia đình, dòng họ, thể hiện qua hàng loạt các lễ thức, nghi thức, thế chế phong tục.
Trong gia đình: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên (hay còn được gọi là đạo thờ cúng tổ tiên) trở thành nếp sống trong mỗi gia đình người Việt Nam và được thể hiện trong rất nhiều cách thức. Những biểu hiện bên ngoài như: bàn thờ ông bà, cha mẹ (gia tiên), giỗ chạp...đến những tâm thức thường trực tiềm tàng trong cách nghĩ, cách cảm - lối sống của cư dân.
Bàn thờ gia tiên: Theo điều tra năm 1999 - 2000, hầu như nhà nào cũng thờ gia tiên không kể trưởng thứ, cứ lập gia đình, ra ở riêng là dành một chỗ trang trọng nhất để thờ. Với những gia đình chưa có điều kiện kinh tế hoặc con thứ thì cũng vẫn có một ban thờ ông bà hoặc bố mẹ.
Những nhà có điều kiện thì đóng mới hoặc mua bàn thờ đặt ở gian trang trọng, câu đối, hoành phi. Bàn thờ gia tiên là nơi biểu hiện - vật thể hoá những tình cảm, trách nhiệm của thế hệ đang sống với các thế hệ trước của gia đình (gia tiên). Ngoài các ngày kỵ (giỗ chạp), ngày một (ngày sóc), ngày rằm (ngày vọng) trong tháng, các lễ tiết trong năm (mồng ba tháng ba, ngày năm tháng năm - Đoan ngọ, Trung thu, Tết Nguyên đán) thì mọi vui buồn trong gia đình đều được chủ nhà "báo cáo" với gia tiên, mời gia tiên về chứng giám, giàu có thì mâm cỗ, khá giả chút thì hoa quả, đĩa sôi, chén rượu.. nghèo thì nén hương chén nước sạch...
Giỗ chạp: Trong gia đình việc cúng giỗ gia tiên, tổ tiên chỉ được thực hiện với những người trong phạm từ 4 đời trở xuống (người mà chủ gia đình gọi là cụ), còn từ đời thứ 5 trở lên được giỗ chung trong phạm vi họ tộc hay trong chi phái). Giỗ chạp, theo phong tục xưa chỉ diễn ra ở nhà con trai trưởng - bậc trai trưởng. Những ngày giỗ, tuỳ theo tình hình kinh tế của nhà trưởng mà cỗ bàn to hay nhỏ, nhiều hay ít.
Có một thực tế là không phải tất cả các gia đình đều có con trai hay tất cả nhưng con trai trưởng đều còn, trong những trường hợp như vậy, từ lâu ở người Việt thường có chế độ thừa tự (con trai thứ của bậc thứ được nhân phần cúng giỗ) hoặc con gái cũng cúng cha mẹ, ông bà.Trong phạm vi dòng họ: Trong phạm vi dòng họ việc thờ cúng tổ tiên thể hiện qua một loạt các hoạt động tập thể của các gia đình, các thành viên trong họ về giỗ tổ, chạp mộ. Địa điểm thờ cúng tổ tiên của dòng họ được diễn ra ở nhà trưởng họ (tộc trưởng), có nơi có điều kiện thì xây cất nhà thờ họ (từ đường).
Nhà thờ họ (Từ đường): Không phải tất cả các họ, tộc đều có (hoặc còn) nhà thờ - một địa điểm thờ cúng tổ tiên chung của các thành viên trong họ - theo nghĩa là những người được coi là có chung một cụ tổ về đằng cha), vì tuỳ thuộc những điều kiện kinh tế, xã hội nhất định. Tuy nhiên, nhà thờ họ (từ đường) là một hiện tượng ngày càng phổ biến, phát triển của cư dân Việt nói chung của vùng Nam Định nói riêng. Tính đến năm 1998, theo số liệu điều tra của Sở Văn hoá thông tin, toàn tỉnh có đến 3368 từ đường chính phái, hoặc chi, nhánh của các dòng họ. Có những làng, có bao nhiêu dòng họ, chi phái thì có bấy nhiêu từ đường. Thôn Hưng Thịnh - Hoàng Nam - Nghĩa Hưng với 30 họ, 34 nhà thờ; thôn Bách Tính - Nam Trực có 15 nhà thờ họ; làng Hoành Nha xã Giao Tiến, huyện Giao Thuỷ có 54 từ đường; Trà Lũ có 18 từ đường...).
Mặt khác, có một thực tế, do những điều kiện lịch sử, kinh tế xã hội cụ thể mà ở Nam Định càng đi về mạn Xuân Trường, Giao Thuỷ, Hải Hậu, Nghĩa Hưng, những làng có lịch sử khai phá từ khoảng vài trăm năm trở lại, những từ đường lại mọc lên nhiều hơn. Hẳn trong những điều kiện của một cư dân tiểu nông, mỗi lần phải rời quê hương bản quán đi khai khẩn vùng đất mới, ý thức về quê hương, tổ tiên, dòng họ lại có dịp trỗi dậy.
Theo: Địa chí Nam Định
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)



























